- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2019/HNGĐ - ST Ngày 09 - 7 - 2019 V/v Tranh chấp Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Khiết
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Mầm
Ông Võ Tấn Liêm
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Chí Thêm - Thư ký Tòa án
Trong ngày 09 tháng 7 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2019/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp Ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trương Thị Thủy L, sinh năm 1987 (Có mặt)
Cư trú tại: Ấp LX, xã PH, huyện CN, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Cư trú tại: Ấp LX, xã PH, huyện CN, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 09 tháng 4 năm 2019 và tại phiên tòa, chị Trương Thị Thủy L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã PH, huyện CN, tỉnh Cà Mau. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải nhau, mâu thuẫn kéo dài, anh Nguyễn Văn T không lo làm ăn, không chăm lo cho cuộc sống gia đình, sự việc không được tháo gỡ và kéo dài, từ đó mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng gay gắt và trầm trọng hơn. Nay chị xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nữa nên yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn T có 01 người con chung là Nguyễn Thị Thúy Trân, sinh ngày 17/7/2008 hiện nay đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và chị yêu cầu anh Tùng phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị xác định và anh Nguyễn Văn T không có tài sản chung và cũng không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng. Nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Nguyễn Văn T kể từ khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Nguyễn Văn T vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng. Do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh Tùng hợp lệ đến lần thứ hai để đến Tòa án để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh Tùng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có bất cứ văn bản nào có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Thủy L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhận định:
[1] Tranh chấp giữa chị Trương Thị Thủy L và anh Nguyễn Văn T là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Anh Nguyễn Văn T có địa chỉ tại Ấp LX, xã PH, huyện CN, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Nhận định của Tòa án về nội dung tranh chấp của vụ án:
Về hôn nhân: Chị Trương Thị Thủy Lvà anh Nguyễn Văn T kết hôn kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn. Nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì chị Linh có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Yêu cầu của chị Linh đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và pháp luật tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau tiến hành hòa giải tại Tòa án theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh Nguyễn Văn T hợp lệ đến lần thứ hai để đến Tòa án để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh Tùng vẫn vắng mặt không lý do, do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Tùng.
Hội đồng xét xử xét thấy, anh Nguyễn Văn T và chị Trương Thị Thủy L có phát sinh mâu thuẫn với nhau trong khoảng thời gian chung sống với nhau, dẫn đến chị Linh yêu cầu xin được ly hôn với anh Tùng tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, quá trình giải quyết vụ án mặc dù anh Tùng đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Nguyễn Văn T vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Thủy L. Điều này cho thấy anh Tùng không có thiện chí hàn gắn tình cảm gia đình đối với chị Linh và việc anh Tùng không đến tòa án để hòa giải cho thấy mâu thuẫn giữa chị Linh và anh Tùng đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Linh. Cho chị Linh được ly hôn với anh Tùng.
Về con chung: Chị Trương Thị Thủy L và anh Nguyễn Văn T có 01 người con chung là Nguyễn Thị Thúy Trân, sinh ngày 17/7/2008, hiện nay đang sống với chị Linh. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh Tùng phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy kể từ khi thụ lý vụ án. Mặc dù anh Nguyễn Văn T đã được thông báo về việc thụ lý vụ án và được triệu tập để tham gia tố tụng tại Tòa án hợp lệ, nhưng anh Nguyễn Văn T không có ý kiến gì về việc chị Trương Thị Thủy L yêu cầu ly hôn và yêu cầu được nuôi con chung và yêu cầu anh Tùng phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Hơn nữa hiện nay cháu Trân đã 11 tuổi và đang sống chung với chị Linh đã ổn định. Đồng thời tại biên bản lấy lời khai của Tòa án thì cháu Trân có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Linh về việc tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Thúy Trân, sinh ngày 17 tháng 7 năm 2008 cho chị Linh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Trân thành niên. Buộc anh Nguyễn Văn T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 800.000 đồng cho đến khi cháu Trân tròn 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Trương Thị Thủy L xác định chị và Anh Nguyễn Văn T không có tài sản chung và cũng không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng. Nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Nếu sau này chị Trương Thị Thủy L và anh Nguyễn Văn T có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì chị Trương Thị Thủy L và anh Nguyễn Văn T đều có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm Trương Thị Thủy L phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Các điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Các điều 9, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trương Thị Thủy L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
[2] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thúy Trân, sinh ngày 17/7/2008 cho chị Trương Thị Thủy L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Buộc anh Nguyễn Văn T phải cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Trân mỗi tháng 800.000 đồng cho đến khi cháu Trân tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng đực tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con, kể từ ngày chị Trương Thị Thủy L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn Văn T chậm trả khoản tiền cấp dưỡng thì hàng tháng anh Tùng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất tương ứng với thời gian chậm trả được quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
[3] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trương Thị Thủy L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004295 ngày 09 tháng 4 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Chị Trương Thị Thủy L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Án phí cấp dưỡng nuôi con. Buộc anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000 đồng (Chưa nộp). Nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Cái Nước; - Chi cục THADS huyện Cái Nước; - UBND xã Phú Hưng; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thanh Khiết |