vanban.org

Bản án 109/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công Ty Tài Chính Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Ngân Hàng VNTV (VPB FC).

Buộc chị Nguyễn Thị Kim N trả cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng VNTV số tiền 16.162.000 đồng (Mười sáu triệu một trăm sáu mươi hai ngàn đồng). Thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng V… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng và Nguyễn Thị Kim Nguyên"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công Ty Tài Chính Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Ngân Hàng VNTV (VPB FC).
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2019/DS-ST;
Ngày: 17/5/2019;
V/v “Tranh chấp
hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Xuân;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Thanh Phong;

Ông Lê Văn Rở;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

Trong ngày 17 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 518/2018/TLST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2019/QĐST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công Ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một Thành Viên Ngân Hàng VNTV (VBP FC).

Địa chỉ: Tầng 2, Tòa Nhà Ree Tower, số 9 Đoàn Văn Bơ, Phường 12, Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Mỹ H. Chức vụ: Trưởng nhóm Tố Tụng - Phòng Thu Hồi Nợ Pháp Lý - Trung Tâm Thu Hồi Nợ - Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV (VPB FC).

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ngô Hoàng N - sinh năm 1991.

Địa chỉ: số 113A, khu phố 5, Phường 10, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Nguyễn Thị Kim N - sinh năm 1993.

Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang;

(Anh N xin vắng mặt; chị N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai,biên bản hòa giải, anh Ngô Hoàng N đại diện ủy quyền Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV (gọi tắt là Công ty tài chính) trình bày:

Ngày 02/10/2015 chị Nguyễn Thị Kim N có ký hợp đồng tín dụng với số 20151003-500000-0716 với Công ty tài chính vay số tiền 15.825.000 đồng với lãi suất thỏa thuận 3,75%/tháng, để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng chị N có trách nhiệm thanh toán số tiền 24.270.000 đồng gồm nợ gốc và tiền lãi, trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng và 23 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 1.012.000 đồng, tháng cuối cùng trả 994.000 đồng. Thời gian thanh toán bắt đầu từ ngày 07/11/2015. Chị N đã nhận đủ số tiền như trong hợp đồng nhưng chị N chỉ thanh toán cho Công ty tài chính 08 kỳ với tổng số tiền đã trả là 8.108.000 đồng. Kể từ ngày 19/07/2016 cho đến nay chị N không thanh toán cho Công ty tài chính thêm bất cứ khoản nào cho tới nay dù công ty có nhắc nhở, yêu cầu thanh toán. Do chị N không thực hiện đúng như hợp đồng, trễ hạn thanh toán đã lâu nên công ty yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Nguyễn Thị Kim N thanh lý hợp đồng trả cho công ty số tiền còn thiếu là 16.162.000 đồng (trong đó nợ gốc là 12.002.460 đồng và nợ lãi là 4.159.540 đồng), trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Kim N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho chị N nhưng chị N không đến tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa tại phiên tòa Hội đồng xét xử xác định quan hệ mà các bên đang tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng.

Xét đại diện ủy quyền của nguyên đơn anh Ngô Hoàng N có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh N.

Xét bị đơn chị Nguyễn Thị Kim N đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng chị N vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị N.

Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính, Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa Công ty tài chính và chị Nguyễn Thị Kim N+

có ký hợp đồng tín dụng số 20150003-500000-0716 ngày 02/10/2015 để vay số tiền 15.825.000 đồng; với lãi suất 3,75%/tháng; mục đích để tiêu dùng cá nhân; trả chậm trong 24 tháng, 23 tháng đầu mỗi tháng trả 1.012.000 đồng, tháng cuối trả 994.000 đồng, bắt đầu thực hiện từ ngày 07/11/2015. Theo thỏa thuận tại hợp đồng chị N có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tài chính số tiền 24.270.000 đồng. Sau khi được giải ngân chị N đã trả cho Công ty tài chính được 08 kỳ với số tiền 8.108.000 đồng, kể từ sau ngày 19/7/2016 thì chị N không trả tiền cho Công ty tài chính khoản tiền nào nữa và còn nợ lại Công ty tài chính số tiền 16.162.000 đồng. Thời hạn chấm dứt hợp đồng là vào ngày 07/10/2017 nên việc chị N không trả tiền cho Công ty tài chính theo định kỳ là vi phạm nghĩa vụ của khách hàng về việc thanh toán khoản trả hàng tháng và các khoản khác theo thỏa thuận. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính, buộc chị Nguyễn Thị Kim N trả cho Công ty tài chính số tiền 16.162.000 đồng, gồm nợ gốc là 12.002.460 đồng và nợ lãi là 4.159.540 đồng.

Về yêu cầu tính lãi: Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty tài chính không yêu cầu chị Nguyên trả lãi từ ngày 07/10/2017 cho đến ngày Tòa xét xử vụ án.

Về thời gian trả: Công ty tài chính yêu cầu chị N trả số tiền 16.162.000 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở vì phía chị N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty tài chính nên Hội đồng xét xử buộc chị N trả cho Công ty tài chính số tiền 16.162.000 đồng, thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Do yêu cầu của Công ty tài chính được chấp nhận nên chị Nguyễn Thị Kim N phải chịu án phí theo định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào các Điều 90, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng.

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công Ty Tài Chính Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Ngân Hàng VNTV (VPB FC).

Buộc chị Nguyễn Thị Kim N trả cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng VNTV số tiền 16.162.000 đồng (Mười sáu triệu một trăm sáu mươi hai ngàn đồng). Thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng VNTV có đơn yêu cầu thi hành án nếu chị Nguyễn Thị kim N không chịu trả tiền thì hàng tháng chị N còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 20151003-500000-0716 ngày 02/10/2015.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim Nn phải chịu 808.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng VNTV 404.050 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0015511 ngày 18/12/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C.

Báo đại diện nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. * Nơi nhận:

Cỡ chữ