vanban.org

Bản án 109/2019/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 25/07/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng các 584, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn là anh Trần Thanh P bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Phạm Văn Đ số tiền phải trả là 42.866.658đ. Kể từ ngày anh Phạm Văn Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Trần Thanh P không thi hành xong khoản tiền trên, thì còn phải trả t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Phạm Văn Đ - Trần Thanh P"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng các 584, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2019/DS-ST
Ngày 25/7/2019
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại
về sức khỏe

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Xuân Trúc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Liêm

Bà Trần Thị Cúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Huyền Trang– Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Em - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25/6/2019 và ngày 25/7/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2019/TLST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2019 về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 407/2019/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1979 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp G, xã H, thành phố C, tỉnh C.

- Bị đơn: Anh Trần Thanh P, sinh năm 1986 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa nguyên đơn anh Phạm Văn Đ trình bày: Vào ngày 26/5/2018 giữa anh Trần Thanh P và anh Phạm Văn Đ có xảy ra mâu thuẩn, cự cải nên anh Trần Thanh P có dùng tay đánh vào mặt anh Phạm Văn Đ gây gãy xương chính mũi, chấn thương phần xoan, dẫn đến tỷ lệ thương tích 9%. Sự việc xảy ra có trình báo công an thành phố Cà Mau và ngày 05/10/2018 Công an đã có thông báo kết quả là không khởi tố vụ án hình sự do hành vi của anh P không cấu thành tội phạm. Sau khi bị đánh anh Đ đã đi điều trị nhiều nơi, cụ thể: Điều trị tại bệnh viện Hoàn Mỹ (Cà Mau) 01 lần; điều trị tại bệnh viện Tai – Mũi – Họng (02 lần); điều trị tại bệnh viện Nhiệt Đới 01 lần.

Nay anh Đ khởi kiện yêu cầu anh Trần Thanh P phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho anh gồm các chi phí sau:

- Tiền chi phí điều trị: 25.000.000 đồng;

- Tiền ăn, ở điều trị: 400.000đ/ngày x 50 ngày = 20.000.000 đồng;

- Tiền mất thu nhập do không lao động được: 8.000.000đ/tháng x 3 tháng = 24.000.000 đồng;

- Tiền xe Cà Mau đi Sài Gòn chuyến đi và về: 1.200.000đ/chuyến x 4 chuyến = 4.800.000 đồng;

- Tiền tổn thất tinh thần: 10.000.000 đồng.

Tổng cộng số tiền là: 83.800.000 đồng (Tám mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa, anh Đ yêu cầu bị đơn bồi thường thêm tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh với mức thu nhập 8.000.000đ/tháng với số tiền 266.000đ/ngày x 58 ngày = 13.300.000 đồng;

Tổng cộng số tiền anh Đ yêu cầu là: 96.800.000 đồng (Chín mưới sáu triệu tám trăm nghìn đồng). Đã qua gia đình anh P đã bồi thường 7.000.000 đồng, nay yêu cầu anh P tiếp tục bồi thường số tiền 89.800.000 đồng.

Tại biên bản hòa giải và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Thanh P trình bày: Anh thừa nhận vào ngày 26/5/2018 do có mâu thuẫn từ việc anh Đ ăn gian khi chơi đánh bài để không phải thanh toán tiền nước uống của nhóm, anh P đã dùng tay đánh vào mặt ngay vùng mũi của anh Phạm Văn Đ gây gãy xương chính mũi, chấn thương phần xoan đúng như anh Đ trình bày nên anh P thừa nhận thương tích của anh Đ là do lỗi anh P gây ra. Tuy nhiên hiện anh P không thống nhất bồi thường số tiền là 89.800.000 đồng theo yêu cầu anh Đ. Do anh P cho rằng trong quá trình anh Đ điều trị gia đình anh có bồi thường cho anh Đ số tiền 7.000.000 đồng. Nay anh P chỉ đồng ý bồi thường thêm 25.000.000 đồng, trường hợp anh Đ không đồng ý thì anh chỉ chấp nhận bồi thường thiệt hại theo chứng minh của anh Đ, ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

-Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và các Đ sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn Đ số tiền là 40.770.387đ; không chấp nhận yêu cầu phần còn lại. Anh Trần Thanh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi thẩm tra các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quy định tại Khoản 6 Điều 26 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố Cà Mau.

Về nội dung vụ án: Xét thấy hiện nguyên đơn, bị đơn thừa nhận vào ngày 26/5/2018 giữa nguyên đơn và bị đơn có mâu thuẫn, anh Trần Thanh P dùng tay đánh vào mặt anh Phạm Văn Đ gây thương tích cho anh Đ. Sau đó nguyên đơn có điều trị nhiều nơi nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải bồi thường là có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các đương sự không thống nhất với nhau số tiền yêu cầu bồi thường. Qua xem xét Hội đồng xét xử xét thấy đối với số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải tiếp tục bồi thường thêm 89.800.000 đồng là quá cao so với quy định nên cần xem xét điều chỉnh lại cụ thể như sau:

- Chi phí tiền thuốc điều trị: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường số tiền 25.000.000 đồng nhưng thực tế tại hồ sơ nguyên đơn cung cấp bảng kê hóa đơn thanh toán nguyên đơn xác định tổng cộng 26.434.000đ. Trong đó, số tiền 16.434.000đ có toa vé hợp pháp, đối với số tiền 20.000.000đ còn lại chỉ được thể hiện thông qua ảnh chụp của phiếu tạm ứng nhập viện của bệnh viện tai mũi họng Thành phố Hồ Chí Minh là chưa đủ cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, ngày 04/7/2018 Tòa án đã thu thập thêm tài liệu tại bệnh viên Tai Mũi họng thành phố Hồ Chí Minh thể hiện từ ngày 28/6/2018 – 04/7/2018 anh Đ có điều trị là 13.432.658đ. Do đó, có cơ sở chấp nhận tổng cộng chi phí điều trị là 19.866.658đ.

- Chi phí tiền ăn, ở điều trị người bệnh người nuôi bệnh: Nguyên đơn yêu cầu số tiền là 400.000đ/ngày x 50 ngày = 20.000.000 đồng là chưa phù hợp bởi lẽ, theo hồ sơ bệnh án thể hiện anh Đ điều trị tại bệnh viện Hoàn Mỹ Minh Hải 02 ngày (26/5 đến 27/5/2018); điều trị tại bệnh viện Tai – Mũi – Họng 10 ngày (từ ngày 04/6/2018 - 06/6/2018 và từ ngày 28/6/2018 – 04/7/2018), tổng số ngày điều trị tại bệnh viện là 12 ngày. Mặt khác, anh Đ yêu cầu tiền ăn, ở 400.000đ/ngày là quá cao cần điều chỉnh cho phù hợp như sau: 100.000đ x 12 ngày x 02 người = 2.400.000đ

- Tiền mất thu nhập người bệnh: Nguyên đơn yêu cầu bồi thường mất thu nhập 8.000.000đ/tháng x 03 tháng = 24.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có xuất trình đơn xin xác nhận với nội dung từ tháng 02/2018 đến ngày 24/3/2018 có làm thuê cho ông Trần Văn Mức, địa chỉ số 31/16 phường 13, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh với mức lương 8.000.000 đồng/tháng. Xét thấy đến ngày 24/3/2018 anh Đ đã ngừng làm cho ông Mức, đến ngày 26/5/2018 mới xảy ra sự việc anh Đ bị đánh, qua làm việc với Công an xã Hoà Tân, thành phố Cà Mau xác định anh Phạm Văn Đ từ trước đến nay thường trú tại ấp Gành Hào 2, xã Hòa Tân, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau và là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, mức tiền lương lao động phổ thông cơ bản tại địa phương khoảng 200.000 đồng/ngày, ngoài giấy xác nhận trên anh Đ không cung cấp được hợp đồng lao động hay chứng cứ gì khác để chứng minh thu nhập và thời gian điều trị bệnh và theo hồ sơ thể hiện ngày điều trị đầu tiên là ngày 26/5/20018 ngày tái khám cuối cùng của anh Đ là ngày 19/7/2018. Như vậy có cơ sở kết luận thời gian điều trị của anh Đ là 01 tháng 23 ngày, chấp nhận dưỡng bệnh thêm 07 ngày. Do đó, chấp nhận thời gian mất thu nhập là 02 tháng theo Bộ luật lao động thì mỗi tháng mỗi lao động có 04 ngày nghỉ nên 02 tháng trừ 08 ngày nghỉ bằng 52 ngày x 200.000đ/ngày = 10.400.000đ.

- Tiền xe từ Cà Mau đi Sài Gòn 04 chuyến đi và về nguyên đơn yêu cầu bồi thường tổng cộng là 4.800.000 đồng. Mặc dù, hiện nguyên đơn không cung cấp được toa vé đi lại chứng minh mỗi chuyển là 1.200.000đ nhưng đối với chi phí này là phù hợp thực tế đi lại từ Cà Mau đến thành phố Hồ Chí Minh cho người bệnh và người nuôi bệnh nên chấp nhận toàn bộ.

- Tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh là chị Phạm Thu Đ là em ruột anh Đ, yêu cầu bồi thường với mức thu nhập 8.000.000đ/tháng với số tiền 266.000đ/ngày x 58 ngày = 13.300.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận. Bỡi lẽ, qua kết quả xác minh thì chị Phạm Thu Đ về sống chung gia đình chồng từ năm 2013 – 2014 và đến khoảng năm 2016 - 2017 thì đi làm ăn xa cho đến nay không rõ địa chỉ cụ thể đang ở đâu bản thân anh Đ cũng không chứng minh được thu nhập của chị Đ nên chỉ chấp nhận mức lao động phổ thông tại địa phương cho người nuôi bệnh là 200.000đ/ngày x 12 ngày nằm viện của anh Đ bằng 2.400.000đ.

- Tiền tổn thất tinh thần: Đối với thương tật của anh Đ 09% là hoàn toàn do lỗi anh P gây ra nên ngoài các khoản bồi thường trên, anh Đ còn đặt ra yêu cầu anh P phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần với số tiền 10.000.000 đồng là có căn cứ đúng qui định pháp luật nên được chấp nhận.

Tổng cộng các khoản bồi thường bị đơn phải thanh toán cho nguyên là 49.866.658đ đối trừ số tiền 7.000.000đ anh P đã thanh toán trước đây, anh P còn phải tiếp tục thanh toán số tiền là 42.866.658đ; Không chấp nhận yêu cầu còn lại của anh Đ đối với số tiền còn lại là 46.933.342đ

Về án phí bị đơn phải chịu, nguyên đơn được miễn nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Áp dụng các 584, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn là anh Trần Thanh P bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Phạm Văn Đ số tiền phải trả là 42.866.658đ.

Kể từ ngày anh Phạm Văn Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Trần Thanh P không thi hành xong khoản tiền trên, thì còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

Không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bồi thường số tiền còn lại là 46.933.342đ

Án phí dân sự sơ thẩm anh Trần Thanh P phải chịu 2.143.000 đồng (chưa nộp). Anh Phạm Văn Đ không phải nộp, ngày 13/02/2019 đã được miễn dự nộp theo quy định nên không đặt ra việc trả lại.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các diiêù 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, những người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- TAND tỉnh Cà Mau;

- VKSND thành phố Cà Mau;

- Chi cục THADS thành phố Cà Mau;

- Các đương sự;

- Lưu.

- Lưu.

Trịnh Xuân Trúc TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ CÀ MAU

Độc lập - Tự do - Hạnh Pc

TỈNH CÀ MAU

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào ngày 25 tháng 7 năm 2019.

Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Trịnh Xuân Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Kha

Bà Trần Thị Cúc

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số: 35/2019/TLST- DS ngày 13 tháng 02 năm 2019, về việc tranh chấp Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1979 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Gành Hào 2, xã Hòa Tân, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Trần Thanh P, sinh năm 1986 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Hòa Nam, xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, các quy định của pháp luật,

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:

Căn cứ khoản 6 Điều 26, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Áp dụng các 584, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn là anh Trần Thanh P bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Phạm Văn Đ số tiền phải trả là 42.903.058đ.

Kể từ ngày anh Phạm Văn Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Trần Thanh P không thi hành xong khoản tiền trên, thì còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

Không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bồi thường số tiền còn lại là 46.896.942đ

Án phí dân sự sơ thẩm anh Trần Thanh P phải chịu 2.145.000 đồng (chưa nộp). Anh Phạm Văn Đ không phải nộp, ngày 13/02/2019 đã được miễn dự nộp theo quy định nên không đặt ra việc trả lại.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, những người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kết quả biểu quyết: 3/3

Nghị án kết thúc cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN

THẨM PHÁN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trịnh Xuân Trúc

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ