- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Văn Viết Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 109/2018/HS-ST Ngày: 06-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn V
2. Bà Trần Thị Ngọc Q
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Tr - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế, tinth Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Trần Văn C - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2018, đối với bị cáo:
Văn Viết Q, tên gọi khác: N; sinh ngày 26 tháng 8 năm 1984 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ 4, phường T, thị xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thầy cúng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: phật giáo; Q tịch: Việt Nam; con ông: Văn Viết K và bà Phan Thị Th; vợ: Lê Thị H1 và hai con (sinh năm 2016 và 2017); tiền án, tiền sự: Không;
Quá trình Nhân thân:
Lúc nhỏ sống với bố mẹ tại thị xã T, tỉnh Thừa Thiên Huế, học đến lớp 12/12 thì nghỉ học, làm nghề thầy cúng tại địa phương cho đến ngày gây án.
Bị bắt tạm giam ngày 29/01/2017, có mặt.
- Bị hại:
1. Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1957; địa chỉ: 28/26 Lương Văn C, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
2. Ông Trần Quang D, sinh năm: 1951; địa chỉ: 11/18 Hoàng Q , phường An Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
3. Ông Bảo P, sinh năm: 1960; địa chỉ: 117 Hùng V, phường Phú H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
4. Ông Ngô Thanh L, sinh năm: 1963; địa chỉ: 18/16 Lương Y, phường Thuận L, thành phố H; vắng mặt.
- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Phan T, sinh năm: 1967; địa chỉ: 67 Võ K, phường Thủy Ch, thị xã T, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
2. Anh Lê Bảo H, sinh năm: 1989; địa chỉ: 570 Nguyễn Tât T, phường Thủy Ch, thị xã Hương Th, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
3. Ông Văn Viết C, sinh năm: 1968; địa chỉ: 09/709 Nguyễn Tất Th, phường Thủy Ch, thị xã T tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
4. Chị Lê Thị H, sinh năm: 1993; địa chỉ: tổ 4, phường Thủy Ch, thị xã T, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong các ngày 06/12/2017 đến ngày 16/01/2018, Văn Viết Q đã lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản của nhiều người trên địa bàn thành phố H, cụ thể như sau:
* Lần thứ nhất: Rạng sáng ngày 06/12/2017, Văn Viết Q điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 75K4-5758 đến dựng bên bờ rào của Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế (số 41 Hùng V, phường Phú H, thành phố H). Q leo hàng rào vào bên trong, lén lút nhổ trộm 02 cây mai Vàng của bà Nguyễn Thị Thu H (sinh năm 1957; trú tại: 28/26 Lương Văn C, phường A, thành phố H), rồi tẩu thoát theo lối cũ, đưa cây về nhà cất giấu. Sau đó, Q liên hệ bán hai cây mai này cho anh Phan T (sinh năm 1967; trú tại: 67 Võ K, phường Thủy Ch, thị xã T, tỉnh Thừa Thiên Huế) với giá 3.200.000 đồng. Số tiền có được, Q sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
* Vật chứng đã thu giữ:
- Một cây mai Vàng có đường kính gốc 15cm, tán cây rộng 40cm, cao 40cm, khoảng 15 năm tuổi, cây có hai tán;
- Một cây mai Vàng có đường kính gốc 16cm, tán cây rộng 80cm, cao 60cm, khoảng 30 năm tuổi.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 66/KL ngày 22/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế xác định trị giá các tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt như sau:
- Một cây mai Vàng có đường kính gốc 15cm, tán cây rộng 40cm, cao 40cm, khoảng 15 năm tuổi, trị giá 4.000.000 đồng.
- Một cây mai Vàng có đường kính gốc 16cm, tán cây rộng 80cm, cao 60cm, khoảng 30 năm tuổi, trị giá 15.000.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là: 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng).
- 2 -
* Lần thứ hai: Rạng sáng ngày 10/12/2017, Văn Viết Q điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 75K4-5758 đến dựng ở đường Tố H (gần Thư viện Tổng hợp tỉnh ở 29A Lê Quý Đ, phường Phú H, thành phố H). Q đi bộ sang Thư viện tổng hợp, rồi leo hàng rào vào bên trong vườn cây, lén lút nhổ trộm một cây mai Vàng và 03 cây mai Hồng D của ông Trần Quang D (sinh năm 1951; trú tại: 11/18 Hoàng Q , phường An Đ, thành phố H). Sau khi chiếm đoạt được tài sản, Q tẩu thoát theo lối cũ, chở cây về nhà trồng.
* Vật chứng đã thu giữ:
- Một cây mai Vàng có đường kính gốc 08cm, tán cây rộng 100cm, cao 100cm, khoảng 10 năm tuổi.
- Một cây mai Hồng Diệp có đường kính gốc 5cm, tán cây rộng 70cm, cao 100cm, khoảng 5 năm tuổi.
- Một cây mai Hồng Diệp có đường kính gốc 3cm, tán cây rộng 40cm, cao 50cm, khoảng 4 năm tuổi.
- Một cây mai Hồng Diệp có đường kính gốc 4cm, tán cây rộng 30cm, cao 40cm, khoảng 3 năm tuổi.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 66/KL ngày 22/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế xác định trị giá các tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt như sau:
- Một cây mai Vàng có đường kính gốc 08cm, tán cây rộng 100cm, cao 100cm, khoảng 10 năm tuổi, trị giá 8.000.000 đồng.
- Một cây mai Hồng Diệp có đường kính gốc 5cm, tán cây rộng 70cm, cao 100cm, khoảng 5 năm tuổi, trị giá 1.200.000 đồng.
- Một cây mai Hồng Diệp có đường kính gốc 3cm, tán cây rộng 40cm, cao 50cm, khoảng 4 năm tuổi, trị giá 500.000 đồng.
- Một cây mai Hồng Diệp có đường kính gốc 4cm, tán cây rộng 30cm, cao 40cm, khoảng 3 năm tuổi, trị giá 300.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
* Vụ thứ ba: Rạng sáng ngày 16/12/2017, Văn Viết Q điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 75K4-5758 đến dựng đối diện vườn cây cảnh tại 45 Hoàng Văn T, phường An Đ, thành phố H. Q đi bộ vào vườn cây, lén lút nhổ trộm 01 cây mai Vàng của ông Bảo Ph (sinh năm 1960; trú tại: 117 Hùng V, phường Phú H, thành phố H), đưa về nhà cất giấu. Sau đó, Q tặng cây mai này cho anh ruột của mình là Văn Viết C (sinh năm 1968; trú tại: 09/709 Nguyễn Tất Th, phường Thủy Ch, thị xã T).
* Vật chứng đã thu giữ: Một cây mai Vàng có đường kính gốc 14cm, tán cây rộng 100cm, cao 120cm, khoảng 30 năm tuổi.
- 3 -
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 66/KL ngày 22/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế xác định: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, cây mai Vàng có đường kính gốc 14cm, tán cây rộng 100cm, cao 120cm, khoảng 30 năm tuổi có trị giá là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
* Vụ thứ tư: Rạng sáng ngày 19/12/2017, Văn Viết Q điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 75K4-5758 đến dựng ở đường hẻm đối diện tiếp giáp với vườn cây cảnh trong khuôn viên quán cà phê An Cựu Đ (ở đường Đặng Văn Ng, phường An Đ, thành phố H). Q đi bộ, trèo qua tường rào vào bên trong vườn cây của quán cà phê này, lén lút nhổ trộm 02 cây mai Vàng có đặc điểm giống nhau của ông Ngô Thanh L (sinh năm 1963; trú tại: 18/16 Lương Y, phường Thuận L, thành phố H), tẩu thoát theo lối cũ, đưa về nhà trồng 01 cây. Cây còn lại, Q đã bán cho ai không nhớ rõ, nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
* Vật chứng đã thu giữ: Một cây mai Vàng có đường kính gốc 10cm, tán cây rộng 120cm, cao 100cm, khoảng 15 năm tuổi.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 66/KL, ngày 22/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế xác định trị giá các tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt như sau:
- Một cây mai Vàng có đường kính gốc 10cm, tán cây rộng 120cm, cao 100cm, khoảng 15 năm tuổi, trị giá 10.000.000 đồng.
- Một cây mai Vàng có đường kính gốc 10cm, tán cây rộng 120cm, cao 100cm, khoảng 15 năm tuổi (định giá qua hồ sơ), trị giá 10.000.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
* Vụ thứ năm: Rạng sáng ngày 16/01/2018, với phương thức và thủ đoạn như lần thứ tư, Văn Viết Q tiếp tục đến vườn cây cảnh trong khuôn viên quán cà phê An Cựu Đ (ở đường Đặng Văn Ng, phường An Đ, thành phố H), lén lút nhổ trộm 01 cây mai Vàng của anh Ngô Thanh L, đưa về nhà mình cất dấu. Sau đó, Q liên hệ bán cho anh Lê Bảo H (sinh năm 1989; trú tại: 570 Nguyễn Tất T, phường Thủy Ch, thị xã T, tỉnh Thừa Thiên Huế) lấy số tiền 5.700.000 đồng.
* Vật chứng đã thu giữ:
- Một cây mai Vàng có đường kính gốc 23cm, tán cây rộng 100cm, cao 140cm, khoảng 30 năm tuổi.
- Một chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 75K4-5758; số máy: 5C61-047697; số khung: 6107Y-047697.
- Một giấy đăng ký xe số 0036674; biển số đăng ký: 75K4-5758; tên chủ xe là Nguyễn Thị Cẩm Nhung.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 66/KL, ngày 22/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế xác định: Tại thời điểm bị
- 4 -
chiếm đoạt, cây mai Vàng có đường kính gốc 23cm, tán cây rộng 100cm, cao 140cm, khoảng 30 năm tuổi có trị giá là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Như vậy, tổng trị giá tài sản mà Văn Viết Q đã chiếm đoạt trong vụ án này là: 94.000.000 đồng (Chín mươi bốn triệu đồng)
* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại tất cả tài sản mà Văn Viết Q chiếm đoạt đã thu giữ được cho những người bị hại. Sau khi nhận lại tài sản, các ông, bà Nguyễn Thị Thu H, Trần Quang D, Bảo Ph không có yêu cầu gì thêm. Riêng ông Ngô Thanh L yêu cầu Văn Viết Q phải bồi thường cho mình số tiền 10.000.000 đồng (giá trị 01 cây mai Vàng mà Q đã chiếm đoạt của ông Liêm, không thu giữ được). Hiện Q chưa bồi thường.
Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số 75K4-5758 là của chị Nguyễn Thị Cẩm N đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Do không có nhu cầu sử dụng, nên chị Nhung đã bán xe này cho anh Nguyễn Đình V, sau đó anh V bán lại cho anh Văn Viết C (anh ruột Văn Viết Q), nhưng không làm thủ tục sang tên. Anh C đã cho Văn Viết Q mượn chiếc xe môtô này để dùng làm phương tiện đi lại, không biết việc Q đã sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô 75K4-5758 cho anh C là đúng pháp luật.
Chị Lê Thị H (sinh năm 1993 - là vợ của Văn Viết Q) đã tự nguyện trả lại cho anh Phan T số tiền 3.200.000 đồng; trả lại cho anh Lê Bảo H số tiền 5.700.000 đồng thay cho Q (đây là số tiền mà các anh T, H đã trả cho Q khi mua các cây mai cảnh). Sau khi nhận tiền, anh T và anh H không có yêu cầu gì thêm. Chị H không yêu cầu Q phải trả lại cho mình số tiền nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 83/CT-VKS ngày 11 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố Văn Viết Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm e, khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Văn Viết Q từ 02 năm 09 tháng đến 3 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Văn Viết Q phải bồi thường cho ông Ngô Thanh L số tiền 10.000.000 đồng (trị giá 01 cây mai vàng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Văn Viết Q khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật
- 5 -
chứng, kết luận định giá. Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 06/12/2017 đến ngày 16/01/2018, tại địa bàn thành phố H, Văn Viết Q đã lợi dụng sơ hở, lén lút thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản, chiếm đoạt 10 cây mai cảnh các loại của các ông, bà: Nguyễn Thị Thu H, Trần Quang D, Bảo P và Ngô Thanh L. Tổng trị giá các tài sản chiếm đoạt là 94.000.000 đồng (Chín mươi bốn triệu đồng). Vì vậy, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Văn Viết Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Văn Viết Q là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện, trong một thời gian ngắn bị cáo đã thực hiện 05 vụ trộm cắp 10 cây mai, tổng giá trị là 94.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự địa phương, nên cần phải xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần vì thành khẩn khai báo; tác động gia đình bồi thường thiệt hại, mẹ của bị cáo là người có công với cách mạng, nên xử phạt bị cáo 02 năm 09 tháng tù theo như đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tại phiên tòa là phù hợp.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng là hợp pháp.
[ 4]. Về trách nhiệm dân sự: Ông Ngô Thanh L yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho mình số tiền 10.000.000 đồng (trị giá 01 cây mai vàng) là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Văn Viết Q phải chịu 500.000 đồng (10.000.000 x 5% ) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Văn Viết Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt Văn Viết Q ( Nhỏ) 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 29/1/2018
- 6 -
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 buộc bị cáo Văn Viết Q phải bồi thường cho ông Ngô Thanh L số tiền 10.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành án đủ khoản tiền nói trên thì hàng tháng phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo VănViết Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT-Huế; - Sở Tư pháp TT-Huế; - VKSND tp. H; - Công an tp. H; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có QLNVLQ; - Phòng PV 27 Công an Thừa Thiên Huế; - Chi cục THA dân sự tp.H; - Hồ sơ vụ án. - 7 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (ĐÃ KÝ) Thái Thị Hồng Vân |