vanban.org

Bản án 109/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 29/06/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn Đ và Đào Quang Đ1,

giữ nguyên án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự phúc thẩm đối với bị cáo Đ và Đ1 về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đo…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn Đ và Đào Quang Đ1,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

Số: 109/2018/HS-PT

Ngày: 29/06/2018

TÒ ÁN NHÂN DÂN C NG HÒ XÃ H I CHỦ NGHĨ VIỆT N M ––––––––––––––– ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– NHÂN D NH NƯỚC C NG HÒ XÃ H I CHỦ NGHĨ VIỆT N M TÒ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG - hành phần Hội đ ng xét xử phúc thẩm g m có: Thẩ phán - Chủ t a phiên tòa:Ông Huỳnh Đức Kỳ Các Thẩ phán:Ông Trần Minh Long Ông Bùi Trọng Danh - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Na – Th ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. - Đại diện Viện kiể sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tha gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết - Kiểm sát viên. Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: Đào Quang Đ1 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Các bị cáo có kháng cáo: ĐKNKTT: Thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở: K119/09/02 X, ph ờng N, quận C, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm C (s) và bà Mai Thị Tuyết H (s); Tiền án, tiền sự: Không; ĐKNKTT: Thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở: K119/09/02 X,

ph ờng N, quận C, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: không xác định và bà Phạm Thị B (s); Tiền án; tiền sự: Không; Luật s bào chữa cho bị cáo Đào Quang Đ1 có ông Lê Văn A, Luật s văn phòng luật s Lê Văn A, thuộc đoàn luật s thành phố Đà Nẵng. Có mặt N I DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau: Cuối tháng 4.2017 thông qua mạng xã hội Phạm Văn Đ quen biết với ng ời có nick facebook là “V L” (qua trao đổi thì Đ đ ợc ng ời này cho biết tên nhận bán cho L loại thảo mộc thơm ở khu vực thành phố Đà Nẵng với mức l ơng 8.000.000 đồng/01 tháng L giới thiệu cho Đ một ng ời tên V (ch a rõ lại phân chia, đóng gói đến phòng trọ của Đ tại K119/09/02 X, ph ờng N, quận C, cắt vụn, có mùi thơm, Đ nghi ngờ đây là ma tuý, hay gọi là “Cỏ”, Đ mang ra sử dụng thử thì thấy có cảm giác gây kích thích thần kinh, lâng lâng kéo dài 15-20 phút, Đ lên mạng internet tìm hiểu thì biết đây là ma tuý Cần sa, khi sử dụng gây kích thích thần kinh và gây nghiện. Biết đây là ma tuý nh ng do thiếu tiền trả nợ nên Đ vẫn thực hiện việc mua bán. Việc mua bán của Đ đều do V chỉ đạo về địa điểm, thông báo về ng ời mua, số l ợng ma tuý để Đ chuẩn bị và đi bán. Ngày 09.5.2017, Đào Quang Đ1 là bạn của Đ đến ở cùng với Đ. Sau đó, Đ1 phát hiện trong phòng có ma tuý nên hỏi Đ và Đ nói đây là “Cỏ” và dặn Đ1 không nói với ai. Lúc này, Đ1 nhận thức đ ợc đây là ma tuý nên khuyên Đ đừng bán nữa, Đ nói với Đ1 do đang thiếu nợ nên phải bán ma tuý để có tiền trả nợ, sau khi trả xong nợ sẽ không bán nữa. Sau đó Đ1 cũng tham gia vào việc bán ma tuý với Đ để giúp Đ có tiền trả nợ và Đ trả tiền thuê trọ cho Đ1. Đ và Đ1 đem số ma túy trên ra pha trộn và đóng gói theo h ớng dẫn của V để đi bán gồm loại

gam với giá tiền 1.000.000 đồng và các gói nhỏ hơn với giá tiền 200.000 đồng. Khi pha trộn, Đ và Đ1 đóng chặt cửa phòng và mở nhạc to để tránh bị phát hiện. Sau đó, Đ và Đ1 đem loại ma tuý này ra sử dụng và đều có cảm giác kích thích thần kinh, lâng lâng, do sợ bị nghiện nên Đ1 không sử dụng nữa. Đ dặn Đ1 khi đi bán phải quan sát, chọn nơi vắng vẻ, tối để giao nhằm tránh bị cơ quan chức năng phát hiện. Tổng trọng l ợng ma tuý Đ và Đ1 bán đ ợc khoảng 4-5kg thu 24.5.2017, tại khu vực gác chắn xe lửa đ ờng S, ph ờng N, quận C, khi Đ1 đang có hành vi bán 01 gói nilong màu bạc bên trong có 0,5kg ma tuý với giá 5.000.000 đồng cho Lữ Văn M (sn: 22.3.1999, trú: xã X1, huyện T, T. Quảng Nam) và Nguyễn Ngọc S (sn: 25.02 1998, trú Thôn T, xã H, TP. Tam Kỳ, T. Quảng Nam) thì bị tổ tuần tra Công an ph ờng N phát hiện bắt quả tang. Đến 22h45’ cùng ngày, qua khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của Đào Quang Đ1 thì Cơ quan Công an phát hiện và thu giữ: 02 túi giấy có kích th ớc 15x20x7cm bên trong có chứa thực vật khô nghi là chất ma tuý, đã đ ợc niêm phong và kí hiệu L1; 01 thùng cattong nhãn hiệu Solite bên trong có chứa 05 bao nilong bên trong đều chứa thực vật khô nghi là chất ma tuý, đã đ ợc niêm phong kí hiệu L2; 01 thùng cattong nhãn hiệu Vinataba bên trong có chứa 17 túi nilong màu bạc, đều ch a thực vật khô nghi là chất ma túy, kí hiệu L3; 02 bao tời màu vàng bên trong có chứa thực vật khô nghi là chất ma tuý kí hiệu L4; 01 thùng cattong nhện hiệu Vinataba Cát Lợi bên trong có chứa 46 gói dạng bao bì dựng cà phê có chứa thực vật khô nghi là chất ma tuý, kí hiệu L5; 01 thùng cattong nhãn hiệu EMS bên trong có 23 gói nilong có chứa thực vật khô nghi là chất ma tuý, kí hiệu L6; 01 chai dung dịch lỏng màu trắng có tên gọi hỗn hợp các chất tạo h ơng giống tự nhiên thể tích 01 lít; Bao nilong các loại, máy hàn bao nilong, cân loại 05 kg. 365/C54C (Đ4) ngày 16.6.2017 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại không tìm thấy các chất ma tuý th ờng gặp, có tìm thấy thành phần chất AMB-FUBINACA (là một loại cần sa tổng hợp có tác dụng t ơng tự họat chất Delta 9-THC) hiện không nằm trong danh mục các chất ma tuý do Chính phủ Việt Nam ban hành, có trọng l ợng tổng cộng là 33,86 kg. 04/04/2018 của Toà án nhân dân quận Liên Chiểu đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/8/2017. - Căn cứ khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đào Quang Đ1 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Nh ng đ ợc trừ đi một ngày tạm giữ tr ớc đó (từ ngày 24/5/2017 đến ngày 25/5/2017). Bị cáo Đào Quang Đ1 còn phải chấp hành hình phạt 05 (năm) năm 05 (năm) tháng 29 (hai m ơi chín) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/8/2017. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, phần án phí và thông báo quyền kháng cáo. Ngày 12 tháng 04 năm 2018, bị cáo Phạm Văn Đ có đơn kháng cáo với nội dung: Xin đ ợc giảm nhẹ hình phạt. Ngày 19 tháng 04 năm 2018, bị cáo Đào Quang Đ1 có đơn kháng cáo với nội dung: Xin đ ợc giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án nh sau: Đơn kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn Đ và Đào Quang Đ1 có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và nằm trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ. Xét nội dung đơn kháng cáo của các bị cáoPhạm Văn Đ và Đào Quang Đ1 thì thấy trong tháng 4/2017 và tháng 5/2017 các bị cáo Phạm Văn Đ và Đào Quang Đ1 đã có hành vi tàng trữ để mua bán 33,86 kg thực vật khô là ma túy cần sa. Do đó, án sơ thẩm xử bị cáo Phạm Văn Đ và Đào Quang Đ1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội. Bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 06 (sáu) năm tù, xử phạt bị cáo Đào Quang Đ1 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp. Sau khi xử sơ thẩm các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm a khoản 1 điều 355 và Điều 356 của BLTTHS 2015 không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn Đ, Đào Quang Đ1 và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Luật s bào chữa cho Đào Quang Đ1 cho rằng tr ớc khi nhận bán hàng cho bị cáo Đ thì Đ1 chỉ biết đó là thảo mộc, cỏ khô. Sau khi bị bắt cơ quan điều

tra h ớng dẫn cho bị cáo khai là ma túy, thì lúc đó bị cáo mới biết đó là ma túy cần sa. Cấp sơ thẩm không làm rỏ thời điểm bị cáo Đ1 nhận thức biết đ ợc đó là ma túy từ khi nào, vì qua kết quả giám định 33,86 kg thực vật khô thu giữ tại nhà Đ và Đ1 đang ở thì không tìm thấy chất ma túy th ờng gặp. Tại bản án sơ thẩm xác định bị cáo Phạm Văn Đ không có nghề nghiệp. Nh ng thực tế nghề nghiệp của bị cáo là sinh viên. Vì cấp sơ thẩm điều tra ch a đầy đủ nên đề nghị HĐXX căn cứ điều 358 BLTTHS hủy toàn bộ bản án để điều tra lại. Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Văn Đ, Đào Quang Đ1 vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau: [1] Tại phiên tòa các Phạm Văn Đ và Đào Quang Đ1 khai nhận: từ tháng 4 đến tháng 5/2017 Phạm Văn Đ thông qua mạng xã hội để quen biết với một ng ời có nick facebook là “V L” tên thật là Hà Thị Mai L (không rõ địa chỉ). L giới thiệu cho Đ một ng ời tên V (không rõ lai lịch) điều hành việc pha chế thảo mộc khô thành ma túy cần sa để mua bán cho các con nghiện và trả l ơng mỗi tháng cho Đ là 8.000.000 đồng. Số tiền bán đ ợc Đ chuyển khoản qua ngân hàng cho L và V. Phạm Văn Đ rủ rê, lôi kéo Đào Quang Đ1 cùng tham gia phạm tội và đến ở cùng phòng trọ với Đ. Ngày 24/5/2017 khi Đào Quang Đ1 đang thực hiện hành vi bán 0,5kg thực vật khô với giá 5.000.000 đồng cho Lữ Văn M thì bị bắt quả tang. Tại nhà ở nơi các bị cáo thuê trọ K119/09/02 đ ờng X, ph ờng N, cả hai bị cáo đang tàng trữ 33,86 kg thảo mộc khô, nên sau đó bị cơ quan điều tra thu giữ. Qua giám định tuy không tìm thấy các chất ma túy th ờng gặp, nh ng có tìm thấy thành phần ABM-FUBINACA, là một loại cần sa tổng hợp có tác dụng t ơng tự hoạt chất Delta 9- THC, do Đ và Đ1 đã sử dụng thấy có cảm giác gây kích thích thần kinh và gây nghiện, từ đó Đ và Đ1 ý thức rằng chất đó là chất ma túy, sau khi đã đ ợc pha chế thành cỏ Mỹ. Tại điều 1 thông t liên tịch số 08, ngày 14/11/2015 h ớng dẫn: Nếu chất đ ợc giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi phạ tội ý thức rằng chất đó là chất a túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật t ơng ứng. Do đó, bản án sơ thẩm số

29/2018/HSST ngày 04/04/2018 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử các bị cáo Phạm văn Đ và Đào Quang Đ1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng ng ời, đúng tội. [2] Xét kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn Đ và Đào Quang Đ1 thì thấy: Do l ời biếng lao động và cả hai đều đã sử dụng ma túy. Muốn có tiền tiêu xài nên các bị cáo đã thuê nhà ở K làm nơi tàng trữ và pha chế cỏ Mỹ, Đây là khu vực có nhiều con nghiện có nhu cầu mua ma túy để sử dụng. Các bị cáo hành nghề pha chế theo công thức do V và L h ớng dẫn gồm nguyên liệu thảo mộc khô và một loại dung dịch n ớc, đóng trong chai do L cung cấp, pha chế thành cỏ Mỹ. Quá trình pha chế các bị cáo đóng chặt cửa lại và mở nhạc to để tránh bị phát hiện. Khi pha trộn, đóng gói xong thì bỏ vào bao có nhãn mác “cà phê” và đóng thùng cất giấu, tìm nơi vắng vẻ, trời tối để bán cho các con nghiện, thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo hết sức liều lĩnh, xem th ờng pháp luật, xâm phạm trật tự xã hội. Do đó đối với bị cáo cần phải xử phạt thỏa đáng. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo đ ợc h ởng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Phạm văn Đ mức án 06 năm tù, xử phạt bị cáo Đào Quang Đ1 mức án 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp, không nặng. Sau khi xử sơ thẩm các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cũng nh ý kiến đề nghị của vị luật s , giữ nguyên án sơ thẩm nh đề nghị của viện kiểm sát tại phiên tòa. [3] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của BLTTHS 2015. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn Đ và Đào Quang Đ1, giữ nguyên án sơ thẩm. - Căn cứ khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. - Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/8/2017.

- Căn cứ khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. - Xử phạt bị cáo Đào Quang Đ1 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Nh ng đ ợc trừ đi một ngày tạm giữ tr ớc đó (từ ngày 24/5/2017 đến ngày 25/5/2017). Bị cáo Đào Quang Đ1 còn phải chấp hành hình phạt 05 (năm), năm 05 (năm) tháng, 29 (hai m ơi chín) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/8/2017. 2. Về án phí: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Th ờng vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Phạm Văn Đ và Đào Quang Đ1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. 3. Các phần quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ