- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc Mỹ K-Lê Xuân S"
- Tòa quyết gì? 1 Điều 228, Điểm a Khoản 2 Điều 478 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
- Căn cứ chính? Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1082/2020/HNGĐ-ST Ngày: 27-7-2020 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Nhung
Ông Nguyễn Thành Châu
Thư"ký"phiên"tòa: Ông Bùi Trường An - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh
Đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh không tham"gia"
phiên"tòa.
Trong ngày 27 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng
4 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
3498/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Mỹ K, sinh năm 1991.
Địa chỉ: 22/3 ấp H, xã C, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Lê Xuân S, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Germany.
(Các đương sự đều có đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 17/02/2020 và Bản tự khai ngày 12/5/2020, nguyên
đơn là bà Nguyễn Ngọc Mỹ K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Xuân S đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân
dân phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết
hôn số 113/2011, quyển số 01/2010, ngày 16 tháng 5 năm 2011. Bà và ông Lê Xuân S
kết hôn sau khi ông Lê Xuân S đi lao động ở nước ngoài. Thời gian đầu sau khi kết
hôn, bà và ông Lê Xuân S có liên lạc với nhau. Tuy nhiên, từ năm 2015, bà và ông Lê
Xuân S ít liên lạc vì thời gian và công việc của hai bên, khiến cho tình cảm dần phai
nhạt, đến nay bà không còn tình cảm với ông Lê Xuân S, cũng không còn liên lạc với
ông Lê Xuân S nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân
không đạt được, nên bà yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét,
giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Xuân S.
Về con chung: Bà và ông Lê Xuân S không có con chung.
Về tài sản chung: Bà và ông Lê Xuân S không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà và ông Lê Xuân S không có nợ chung.
Theo Đơn đồng ý ly hôn, xin không hòa giải đoàn tụ và xin xét xử vắng mặt đã
được Tổng Lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Frankfurt am Main, Cộng hòa Liên bang Đức chứng thực ngày 20/5/2020, bị đơn là ông Lê Xuân S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Ngọc Mỹ K đăng ký kết hôn vào năm
2011 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 113/2011, quyển số 01/2010, ngày 16 tháng 5 năm 2011 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Giữa ông và bà Nguyễn Ngọc Mỹ K có nhiều vấn đề không hợp nhau trong cuộc sống nhưng không thể hòa giải được, từ đó tình cảm dần phai nhạt. Hiện tại, ông không còn tình cảm với bà Nguyễn Ngọc Mỹ K, nên ông đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Ngọc Mỹ K.
Về con chung: Ông và bà Nguyễn Ngọc Mỹ K không có con chung.
Về tài sản chung: Ông và bà Nguyễn Ngọc Mỹ K không có tài sản chung.
Về nợ chung: Ông và bà Nguyễn Ngọc Mỹ K không có nợ chung.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn là bà Nguyễn Ngọc Mỹ K và bị đơn là ông Lê Xuân S đều có đề
nghị xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án tại phiên tòa xét
xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngày 17/02/2020, bà Nguyễn Ngọc Mỹ K có Đơn khởi kiện về việc ly hôn, yêu
cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận cho bà Nguyễn Ngọc Mỹ K được ly hôn với ông Lê Xuân S. Do ông Lê Xuân S đang cư trú tại Cộng hòa Liên bang Đức, nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu khởi kiện nêu trên của bà Nguyễn Ngọc Mỹ K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Về tố tụng:
Nguyên đơn là bà Nguyễn Ngọc Mỹ K có Đơn xin vắng mặt đề ngày
10/7/2020, đồng thời bị đơn là ông Lê Xuân S cũng có Đơn đồng ý ly hôn, xin không hòa giải đoàn tụ và xin xét xử vắng mặt đã được Tổng Lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Frankfurt am Main, Cộng hòa Liên bang Đức chứng thực ngày 20/5/2020, nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 207, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 và Điểm a Khoản 1 Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Ngọc Mỹ K và ông Lê Xuân S có quan
hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ vào các
chứng cứ mà Tòa án thu thập được từ Bản tự khai ngày 12/5/2020 của bà Nguyễn
Ngọc Mỹ K và Đơn đồng ý ly hôn, xin không hòa giải đoàn tụ và xin xét xử vắng mặt
của ông Lê Xuân S đã được Tổng Lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam tại Frankfurt am Main, Cộng hòa Liên bang Đức chứng thực ngày 20/5/2020, hai
bên thống nhất thuận tình ly hôn nên có cơ sở xác định rằng mục đích của hôn nhân
giữa bà Nguyễn Ngọc Mỹ K và ông Lê Xuân S đã không đạt được. Do đó Tòa án chấp
nhận yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc Mỹ K xin được ly hôn với ông Lê Xuân S.
Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc Mỹ K và ông Lê Xuân S đều trình bày là
không có con chung, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét,
giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Ngọc Mỹ K và ông Lê Xuân S đều trình bày là
không có tài sản chung, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét,
giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc Mỹ K và ông Lê Xuân S đều trình bày là không
có nợ chung, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc Mỹ K là nguyên đơn có yêu cầu ly
hôn nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Nguyễn
Ngọc Mỹ K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Khoản 4 Điều 147, Khoản
1 Điều 228, Điểm a Khoản 2 Điều 478 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016;
- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình
năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Ngọc Mỹ
K, cụ thể như sau:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Ngọc Mỹ K và ông Lê Xuân S thuận tình ly hôn. Quan hệ hôn nhân
giữa bà Nguyễn Ngọc Mỹ K và ông Lê Xuân S chấm dứt, Giấy chứng nhận kết hôn số
113/2011, quyển số 01/2010, ngày 16 tháng 5 năm 2011 do Ủy ban nhân dân phường
T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ khi bản án có
hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung:
Bà Nguyễn Ngọc Mỹ K và ông Lê Xuân S đều trình bày là không có con chung,
nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung:
Bà Nguyễn Ngọc Mỹ K và ông Lê Xuân S đều trình bày là không có tài sản
chung, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung:
Bà Nguyễn Ngọc Mỹ K và ông Lê Xuân S đều trình bày là không có nợ chung,
nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.
5. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Ngọc Mỹ K phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà Nguyễn Ngọc Mỹ K đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0045943 ngày 09/4/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Ngọc Mỹ K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
6. Về quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Ngọc Mỹ K vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nên quyền
kháng cáo bản án sơ thẩm đối với bà Nguyễn Ngọc Mỹ K là 15 ngày, kể từ ngày bà Nguyễn Ngọc Mỹ K được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Ông Lê Xuân S vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nên quyền kháng cáo
bản án sơ thẩm đối với ông Lê Xuân S là 01 tháng, kể từ ngày ông Lê Xuân S được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi"nhận:"
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Tối cao;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- Cục THADS TP.HCM;
- UBND phường T, Quận M, TP.HCM;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.
Võ Thị Mỹ Hạnh