vanban.org

Bản án 108/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 29/05/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/05/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2026/HS-ST ngày 16-01-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng. Tuyên bố các bị cáo Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2026/HS-PT
Ngày: 29 - 5 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Thành Tâm

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Thanh

Ông Nguyễn Công Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Trí - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 92/2026/TLPT-HS ngày 07 tháng 4 năm 2026 đối với Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2026/HS-ST ngày 16-01-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Sầm Khánh D, sinh ngày 20-6-2004 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ A, xã B, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở hiện tại: số A L, phường B, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: nhân viên phục vụ quán ăn; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Sầm Văn M, sinh năm 1972 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1975; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: ngày 11-8-2022, Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 2.000.000 đồng vi phạm hành chính về hành vi mang theo các loại vũ khí thô sơ, nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác, nộp phạt ngày 13-6-2025; tại ngoại. Có mặt.

2. Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 09-12-2004 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: tổ dân phố A L, phường C B, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: thợ cắt tóc; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1976 và bà Trần Thị T, sinh năm 1983; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 09-9-2024, Nguyễn Tá Đ đi cùng Trần Nguyễn Chí T1, Trần Quang H1, Lê C và 03 người khác, không rõ họ tên đến quán Bar S1; địa chỉ: số A N, phường B B, tỉnh Lâm Đồng chơi rồi xảy ra mâu thuẫn với nhóm của Nguyễn Văn V, Vũ Minh K. Nguyễn Văn H2 - Quản lý quán Bar S1 và Nguyễn Văn C1 đến can ngăn thì giữa C1 và Nguyễn Văn V xảy ra mâu thuẫn. Khi ra cửa quán bar S1 thì C1 và V cãi nhau và dùng tay xô xát, mọi người can ngăn nên cả hai nhóm giải tán đi về. Sau đó, nhóm của C1 gồm C1, Trần Thanh P, Phạm Thanh P1 đến quán B1; địa chỉ: số B H, phường B, tỉnh Lâm Đồng nhậu tiếp còn Đ điều khiển xe ô tô về nhà tại địa chỉ: số B T, phường B B, tỉnh Lâm Đồng lấy 02 con dao rựa phát, có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại, dài khoảng 01m để trong cốp xe nhằm mục đích đi đánh nhau, đồng thời Đ gọi điện thoại cho Lê Đức A kể về việc Đ bị người khác đánh tại quán bar S1 rồi đến Q thuộc phường B B đón Lê Đức A. Đức A rủ thêm Trần Khải Q và người tên N1 (chưa rõ nhân thân lai lịch là bạn của Đức A), Trần Nguyễn Chí T1, Lê C, Nguyễn Quốc B cả nhóm đến quán S1 tìm nhóm của V nhưng không gặp chỉ gặp H2 đang đứng trước cửa quán, Đ chở 03 người gồm Lê Đức A, Trần Khải Q, Nguyễn Văn H2, Trần Quân H3 điều khiển xe ô tô chở theo N1 và một người bạn của N1; Trần Nguyễn Chí T1 điều khiển xe ô tô chở theo 02 người phụ nữ và Lê C điều khiển xe ô tô chờ Nguyễn Quốc B cùng đến quán B1, đậu xe trước cây xăng H8 đối diện quán B2. Khi xuống xe Đ cầm 02 con dao rựa phát cất giấu dưới gầm xe ô tô của Trần Nguyễn Chí T1 nhằm mục đích nếu đánh nhau sẽ mang ra sử dụng. Lê Đức A thấy 02 con dao để dưới gầm xe của T1 sợ bị người khác nhìn thấy nên cầm 02 con dao này cất giấu trên xe của Đ. Nhóm của Đ đợi một lúc không thấy V đến nên về quán bar S1, vừa đến quán thì H2 nói nhóm của V đang đến quán B1 nên cả nhóm Đ quay lại quán B1. Tại đây, H2 gọi điện thoại cho K hẹn gặp nói chuyện. Trong lúc đợi nhóm của K, V thì C1 đứng nói chuyện với H2 và Bùi Xuân P2 ở khu vực trước của quán B1. N1 cầm 02 con dao rựa phát trên xe ô tô của Đ cất vào khu vực bờ tường của cây xăng H8 để sử dụng nếu xảy ra đánh nhau. Thời điểm này do bực tức vì bị C1 đánh nên V về nhà tại địa chỉ: số D Hồ T, phường A B gọi điện thoại cho Trần Xuân T2, Nguyễn Hoàng N đến nhà V để đi “nói chuyện” với nhóm của C1. Đồng thời tại nhà V có thêm 02 đối tượng là “T3” và “Th Thối” (không rõ nhân thân lai lịch). Khi T2 và N đến thì V kể lại cho mọi người nghe về việc mâu thuẫn với C1 tại quán bar S1 và rủ mọi người đi đánh nhau, mọi người đồng ý. Khi nhóm của V đang đứng trước nhà thì Võ Văn T4 đi làm về, đi ngang qua nên đứng lại hỏi thăm thì V kể cho T4 nghe sự việc mâu thuẫn và nhờ T4 chở đến quán bar S1 nói chuyện thì T4 đồng ý. Do T4 quen biết với C1 nên T4 nói sắp xếp cho hai bên nói chuyện giải hòa. V lên xe của T4 thì mang theo 01 con dao dài khoảng 40cm, giấu trong áo. T2 điều khiển xe mô tô chở T3 và N điều khiển xe mô tô chở theo T5 ngồi phía sau cầm hung khí là dao dài khoảng 01m, có vỏ bọc màu đen, đi sau xe của T4, cả 03 xe đi đến quán bar S1. Khi đến cửa quán thì V xuống xe đi vào bên trong, còn T4 chạy xe lên vỉa hè đối diện cách của quán 32m đứng đợi và gọi điện thoại cho bạn. Do không gặp được C1 nên V đi ra, lúc này cả 03 xe của T4, T2, N gồm 06 người cùng đi đến quân Bò Lạc C2 để tìm C2. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 10-9-2024, cả nhóm đến quán B1, T4 đứng xe ở trước quán O địa chỉ B H, Phường B, tỉnh Lâm Đồng. Khi thấy C2 đang đứng nói chuyện với H2, P2 và một số người trước cửa quán Bò Lạc C2 thì V nhảy xuống xe cầm dao chạy đuổi chém C2, quá trình đuổi chém V dùng sống dao chém trúng 01 nhát vào lưng của C2 gây xước da. Đồng thời T2 và N dừng sau xe của T4, T3 và T5 thối cầm dao xuống xe đuổi chém nhóm của Nguyễn Văn C1. Thấy C1 bị đuổi chém thì Trương Gia H4 cầm 01 con dao dài khoảng 50cm để trên mặt bàn trong quản chạy ra đường đuổi chém V nhưng không trúng và được Bùi Xuân P2 ôm cản lại, sau đó P2 phát hiện bị thương ở ngón tay. Thấy C1 bị đuổi chém nên Nguyễn Minh H5 cầm 01 ghế nhựa và Sầm Khánh D, Vũ Minh H6 cầm mỗi người 02 chiếc ly thủy tinh của quán ném ra đường về phía V và những người cầm dao đuổi đánh C1, Trần Thanh P lấy ghế nhựa của quán ném 03 cái về phía T3 và T5, sau đó tiếp tục đập 01 chiếc ly thủy tinh của quán, cầm trên tay và chỉ về phía T3, T5 rồi la hét, chửi bới, Phạm Thanh P1 cũng cầm ghế nhựa của quán ném 02 cái về phía T3, T5. Cùng lúc này nhóm của Đ có Lê Đức A và N1 cầm hai con dao rựa phát do Đ mang theo chạy đuổi chém lại nhóm người của V ở khu vực trước và xung quanh quán Bò Lạc C2, Lê Đức A cầm dao đuổi chém Trương Gia H4, nhưng H4 bỏ chạy nên không chém trúng, Đức A đuổi theo khoảng 20m rồi dừng lại. Sự việc đánh nhau diễn ra trước cửa và xung quanh khu vực quán B1 khiến nhiều người ở các quán nhậu xung quanh đứng ra ngoài xem gây mất an ninh trật tự tại địa bàn, ghế nhựa và ly thủy tinh ném ra ngoài đường H gây cản trở giao thông, một số phương tiện lưu thông 2 chiều phải dừng lại và quay đầu xe đi hưởng khác. Sau khi hai nhóm không đuổi đánh nhau nữa do bực tức nên Nguyễn Văn C1 cầm một con dao và một ghế nhựa màu xanh đứng trên vỉa hè đường H nói chuyện với Nguyễn Văn V, được P2 và H2 can ngăn nên khoảng 10 phút sau tất cả giải tán đi về.

Kết luận giám định số 457/KL-KTHS ngày 30-6-2025 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: không đủ cơ sở kết luận một file video clip gửi giám định tên “5826041131017” có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong 05 file video clip gửi giám định còn lại. Ngày 19-9-2025, Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng) có văn bản kiến nghị số 145/CV-UBND về việc xử lý nhóm thanh niên đánh nhau gây mất trật tự công cộng trên địa bàn nhằm ổn định tình hình góp phần đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương.

Cáo trạng số 13/CT-VKSKV4 ngày 28-10-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng truy tố các bị cáo Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Bản án số 05/2026/HS-ST ngày 16-01-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng quyết định: Tuyên bố Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Sầm Khánh D 02 năm 06 tháng tù; Nguyễn Hoàng N 02 năm tù.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác; các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng; trách nhiệm dân sự; án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 29-01-2026, các bị cáo Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa,

Các bị cáo Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét lời khai thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo Sầm Khánh D, Nguyễn Hoàng N và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ để Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: do có mâu thuẫn từ trước nên vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 10-9-2024 tại khu vực xung quanh quán B1, địa chỉ: số B H, phường B, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Văn V thực hiện hành vi cầm dao tự chế đuổi chém anh Nguyễn Văn C1; Trương Gia H4, Lê Đức A thực hiện hành vi cầm dao tự chế đuổi chém nhau; Sầm Khánh D, Vũ Minh H6, Trần Minh H7, Trần Thanh P, Phạm Thanh P1 thực hiện hành vi cầm ly thủy tinh, ghế nhựa ném ra đường H về phía nhóm của Nguyễn Văn V đồng thời la hét, chửi bới lớn tiếng; Trần Xuân T2, Nguyễn Hoàng N thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô chở T3 và T5 cầm theo hung khí dao tự chế cùng Nguyễn Văn V đuổi chém Nguyễn Văn C1, Trương Gia H4. Nguyễn Tá Đ thực hiện hành vi chuẩn bị hung khí là 02 con dao tự chế đi đánh nhau, khi xảy ra vụ việc thì Lê Đức A và N1 mỗi người sử dụng 01 con dao này tham gia đuổi chém nhau.

Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N, thấy rằng:

Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án phù hợp, phân hóa mức hình phạt đúng quy định pháp luật; xem xét cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới gia đình có công với cách mạng; bị cáo N có hoàn cảnh gia đình khó khăn, căn cứ Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30-9-2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì không đủ điều kiện để áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Song, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Sầm Khánh D 02 năm 06 tháng tù; Nguyễn Hoàng N 02 năm tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N.

[4] Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí:

Các bị cáo Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2026/HS-ST ngày 16-01-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.

Tuyên bố các bị cáo Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Sầm Khánh D 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hoàng N 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

2. Về án phí: căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc Sầm Khánh D và Nguyễn Hoàng N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ