- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thiện Thanh Toàn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thiện Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2025/HS-ST. Ngày: 28-5-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc An.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hoàng Quy.
2. Bà Lý Thị Bạch Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Xuân – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm hình thức trực tuyến công khai tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa; Điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm giam khu vực L gồm: Bị cáo, cán bộ chiến sỹ thuộc nơi giam giữ đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 96/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Đỗ Thiện Thanh T, sinh năm 1989 tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ I, khu K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Nơi sinh sống: Tổ A, khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Hợp M, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1970; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 03 anh em và chưa có vợ con.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Ngày 10/6/2013 bị UBND huyện L đưa đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Đ theo Quyết định số 2661/QĐ-UBND. Đã chấp hành xong.
+ Ngày 31/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, thời hạn 20 tháng theo Quyết định số 20/2018/QĐ-TA. Đã chấp hành xong.
+ Ngày 06/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự tại Bản án số 124/2020/HSST. Đã chấp hành xong
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/01/2025 và chuyển tạm giam đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực L (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Thiện Thanh T là người nghiện ma túy và có nhân thân xấu (02 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và 01 lần bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã xóa án tích.
Ngày 10/01/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy T điều khiển xe mô tô hiệu honda loại Wave ZX, màu đỏ biển số 60F1-4974 đến khu vực chân cầu S, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh tìm gặp người đàn ông lớn tuổi thường gọi là “Ông Già” (không rõ nhân thân lai lịch) để mua ma túy, loại Heroin mục đích đem về sử dụng. T đưa cho người đàn ông trên 700.000 đồng và nhận 01 túi nylon dạng zip bên trong có 03 gói nhỏ chứa ma túy. Sau khi mua ma túy, T điều khiển xe mô tô trên về lại nhà trọ tại Tổ A, khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, T lấy 01 gói ma túy ra sử dụng, số còn lại T cất giấu để tiếp tục sử dụng. Đến 09 giờ 00 phút ngày 11/01/2025, T điều khiển xe mô tô trên đến nhà bà Lê Thị Mai D1 tại Ấp A, xã B, huyện L để tham dự sinh nhật, khi đi T mang theo 02 gói ma túy cất giấu trong quần lót mặc trong người mục đích khi cần sẽ sử dụng. Đến nơi, T gặp Nguyễn Văn N thì cả hai rủ nhau đi cắt tóc, khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô trên chở N đi cắt tóc. Khi cả hai đi đến đường Đ, ấp H, xã L, huyện L thì gặp lực lượng Công an xã L, huyện L đang tuần tra và yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trong quần lót T đang mặc có 01 gói nylon kích thước 03cm x 03cm bên trong có chứa ma túy. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đỗ Thiện Thanh T cùng vật chứng và chuyển hồ sơ đến Cơ quan điều tra Công an huyện L thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Tại Cơ quan điều tra Công an huyện L, T tự nguyện giao nộp thêm 01 gói ma túy T giấu sót lại trong túi quần lót.
Tại Kết luận giám định số 103/KL-KTHS ngày 16/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
+ Mẫu chất bột màu trắng (M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,1260gam, loại Heroin (Heroine).
+ Mẫu chất bột màu trắng (M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,7459gam, loại Heroin (Heroine).
Vật chứng, tài sản tạm giữ, thu giữ:
+ 02 gói nylon (dạng zip) kích thước 03cm x 03cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng không rõ hình dạng là ma túy.
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu honda, loại Wave ZX, màu đỏ, biển số 60F1-4974, đã qua sử dụng.
Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L bị cáo Đỗ Thiện Thanh T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên phù hợp với biên bản phạm tội quả tang cùng các vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập đúng trình tự pháp luật có tại hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKSLT ngày 23/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Đỗ Thiện Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Thiện Thanh T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong số 103/KL-KTHS ngày 16/01/2025.
01 xe mô tô biển số 60F1-4974 do T mua của người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) để làm phương tiện đi lại và không làm thủ tục giấy tờ mua bán. Qua xác minh xe mô tô trên do ông Phàm C Và cư trú tại ấp T, xã B, huyện C đứng tên đăng ký nhưng ông V đã chết và gia đình không còn sinh sống tại địa chỉ trên, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ nguồn gốc để xử lý sau.
Đối với người đàn ông có hành vi bán ma túy cho T, hiện chưa xác định rõ họ tên nhân thân lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn N là người đi cùng với T khi bị bắt, N không biết, không liên quan hành vi tàng trữ ma túy của T nên Cơ quan điều tra không xử lý về hành vi đồng phạm đối với N. Tuy nhiên, khi test chất ma túy trong cơ thể N có kết quả dương tính với chất ma túy (ngày 10/01/2025 N sử dụng ma túy) nên Công an xã L đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi trên đối với N.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thiện Thanh T khai nhận: Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 11/01/2025, tại Tổ A, ấp H, xã L, huyện L, Đỗ Thiện Thanh T có hành vi tàng trữ 02 gói nylon (dạng túi zip) kích thước 03cm x 03cm bên trong chứa ma túy có khối lượng 1.8719 gam, loại Heroin.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Thiện Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo T là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện; gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác. Bị cáo là người có nhân thân xấu, nhận thức được hành vi sử dụng, tàng trữ ma túy có hại cho sức khỏe của bản thân và ảnh hưởng đến tình hình trật tự địa phương nhưng không quyết tâm từ bỏ ma túy mà bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Vật chứng vụ án:
Tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong số 103/KL-KTHS ngày 16/01/2025.
01 xe mô tô biển số 60F1-4974 do T mua của người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) để làm phương tiện đi lại và không làm thủ tục giấy tờ mua bán. Qua xác minh xe mô tô trên do ông Phàm C Và cư trú tại ấp T, xã B, huyện C đứng tên đăng ký nhưng ông V đã chết và gia đình không còn sinh sống tại địa chỉ trên, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ nguồn gốc để xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về vấn đề khác:
Đối với người đàn ông có hành vi bán ma túy cho T, hiện chưa xác định rõ họ tên nhân thân lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn N là người đi cùng với T khi bị bắt, N không biết, không liên quan hành vi tàng trữ ma túy của T nên Cơ quan điều tra không xử lý về hành vi đồng phạm đối với N. Tuy nhiên, khi test chất ma túy trong cơ thể N có kết quả dương tính với chất ma túy (ngày 10/01/2025 N sử dụng ma túy) nên Công an xã L đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi trên đối với N.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Đỗ Thiện Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thiện Thanh T 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 11/01/2025.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại được niêm phong số 103/KL-KTHS ngày 16/01/2025.
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành đang tạm giữ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/4/2025.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đỗ Thiện Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND H. Long Thành (1); - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai (1); - Chi cục THADS H. Long Thành (4); - Bị cáo (1); - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc An |