vanban.org

Bản án 108/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Về nội dung: 1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hồ Thị M và anh Nguyễn Thanh H . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị Mỹ - Nguyễn Thanh Hà"
  • Tòa quyết gì? Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17-12-2025
V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thông.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thu Hiền và bà Nguyễn Thị Xoan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phú Quý - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.

Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 17 tháng 12 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 49/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXX-ST ngày 26 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thị M, sinh ngày 10/06/1999, số CCCD: xxxxxxxxxxxx, địa chỉ: Tổ dân phố 5, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh ngày: 27/01/1984, số CCCD: xxxxxxxxxxxx, nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố 5, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang chấp hành án tại: Phân trại số 1, Trại giam Xuân Hà, xã Toàn Lưu, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hồ Thị Mỹ trình bày: Chị M kết hôn với anh Nguyễn Thanh H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/5/2018 tại UBND Thị Trấn Đ, huyện Đức T (nay là xã Đ), tỉnh Hà Tĩnh. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được hơn 5 năm đến năm 2023 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Năm 2023 anh H vi phạm phát luật và đang phải thi hành án tại Trại giam Xuân Hà, xã Toàn Lưu, tỉnh Hà Tĩnh. Nay, chị M xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hạnh phúc hôn nhân không thể đạt được nữa nên chị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung: Nguyễn Thu T, sinh ngày 28/12/2018, Nguyễn Huy H, sinh ngày 06/02/2020, Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 23/7/2021. Nếu ly hôn chị M có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả 03 con, chị M không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh Hà trình bày quá trình giải quyết vụ án đã có bản tự khai và Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt ngày 14/11/2025 thể hiện:

Về nội dung vụ án: Về thời điểm kết hôn, thời điểm xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn như lời trình bày của nguyên đơn; hiện anh H thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị M yêu cầu ly hôn anh Hà đồng ý ly hôn. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng 03 con chung: Nguyễn Thu T, sinh ngày 28/12/2018, Nguyễn Huy H, sinh ngày 06/02/2020, Nguyễn Thị Kim , sinh ngày 23/7/2021 cho đến tuổi trưởng thành . Nếu ly hôn anh H có nguyện vọng được nuôi 02 con chung Nguyễn Thu T, Nguyễn Huy H cho đến tuổi trưởng thành. Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1] Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Thanh H, cư trú tại Tổ dân phố 5, xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh và hiện đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Hà, tỉnh Hà Tĩnh nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị M và anh Nguyễn Thanh H kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/5/2018 tại UBND Thị Trấn Đức Thọ, huyện Đức Thọ (nay là xã Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Trong các bản tự khai, đơn trình bày chị M và anh H đều khẳng định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn tình cảm với nhau nữa, vì vậy hai bên đều yêu cầu được ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được vì vậy cần ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của các bên.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung: Nguyễn Thu T, sinh ngày 28/12/2018, Nguyễn Huy H, sinh ngày 06/02/2020, Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 23/7/2021. Nếu ly hôn chị M có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến tuổi trưởng thành, chị M không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Còn anh H có nguyện vọng được nuôi 02 con chung Nguyễn Thu T, Nguyễn Huy H cho đến tuổi trưởng thành.

Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng nuôi con của các đương sự là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, hiện nay anh H đang phải chấp hành án tại Trại giam, không thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con; còn chị M có sức khỏe đảm bảo, có công việc buôn bán có nguồn thu nhập, có điều kiện đảm bảo để chăm sóc nuôi dưỡng các con, từ trước tới nay chị M chăm sóc con chu đáo, nguyện vọng của con được ở với mẹ. Để tiếp tục đảm bảo cuộc sống và tâm lý ổn định cho các cháu, Hội đồng xét xử xét thấy nên giao cả 03 con cho chị Hồ Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành là có cơ sở theo quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chị Hồ Thị M không yêu cầu anh Nguyễn Thanh Hà cấp dưỡng nuôi con nên Tòa không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Hồ Thị M là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình nên phải nộp án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều 58; khoản 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hồ Thị M và anh Nguyễn Thanh H .

2.2. Về con chung và cấp dưỡng: Giao 03 con chung Nguyễn Thu T, sinh ngày 28/12/2018, Nguyễn Huy H, sinh ngày 06/02/2020, Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 23/7/2021 cho chị Hồ Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Thanh H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Chị Hồ Thị M tự nguyện nộp 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0000280 ngày 15 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Nay trả lại cho chị Hồ Thị M 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ