- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản - Trần Thanh P - Nguyễn Thị Tuyết M"
- Tòa quyết gì? Sửa chữa, bổ sung Bản án số: 108/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp như sau:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2025/DS-ST Ngày: 30 – 9 – 2025 V/v tranh chấp về dân sự hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quang Vinh.
2. Ông Nguyễn Hoàng Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Nhân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12, 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp (trụ sở 1) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp về dân sự hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 121/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Thanh P, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Số C, khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là số C, ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
Người đại diện hợp pháp của ông Trần Thanh P: Bà Nguyễn Thanh V, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số D, ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là số D, ấp B, xã T, tỉnh Đồng Tháp), là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 28/7/2025).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là số A, ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
Bà Nguyễn Thanh V vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt; bà Nguyễn Thị Tuyết M vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Trần Thanh P có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thanh V trình bày:
Vào ngày 26/6/2016, bà Nguyễn Thị Tuyết M vay của ông Trần Thanh P số tiền gốc 8.170.000 đồng (Tám triệu, một trăm bảy mươi nghìn đồng), mục đích vay là để chi tiêu trong gia đình, lãi suất 1,66%/tháng, thời hạn vay 12 tháng; tại cửa hàng kinh doanh của ông P thì bà M có ký tên và ghi họ tên vào biên nhận ngày 26/6/2016 do ông P đánh máy sẵn. Khi đến hạn trả tiền cho đến nay thì bà M vẫn không trả được tiền vay gốc và lãi cho ông P.
Ông Trần Thanh P yêu cầu bà Nguyễn Thị Tuyết M trả cho ông P số tiền vay gốc là 8.170.000 đồng (Tám triệu, một trăm bảy mươi nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M: Bị đơn bà M vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Tuyết M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng bà M vắng mặt không có lý do, không cung cấp văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông P, cũng không tham dự phiên họp – hòa giải và phiên tòa 02 lần nên Tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của bà M đối với yêu cầu khởi kiện của ông P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông P: Buộc bà M chịu trách nhiệm trả cho ông P số tiền vay gốc là 8.170.000 đồng (Tám triệu, một trăm bảy mươi nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh P và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Tranh chấp về dân sự hợp đồng vay tài sản”, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp), nên nguyên đơn khởi kiện vụ án tại Tòa án nơi bị đơn cư trú là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 (nay là khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025) và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Trần Thanh P là bà Nguyễn Thanh V được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có cung cấp ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do; do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà V, bà M theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Nguyên đơn ông Trần Thanh P xác định ông P chỉ yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M trả cho ông P số tiền vay gốc là 8.170.000 đồng (Tám triệu, một trăm bảy mươi nghìn đồng). Bà M không cung cấp cho Tòa án ý kiến đối với yêu cầu của ông P.
Căn cứ vào biên nhận ngày 26/6/2016, thể hiện bà M đã nhận số tiền vay gốc là 8.170.000 đồng (Tám triệu, một trăm bảy mươi nghìn đồng) của ông P. Nội dung biên nhận cho thấy tại thời điểm ông P cho bà M vay tiền thì các bên đều tự nguyện, có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch về việc cho vay tiền, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, hợp đồng vay tiền ngày 26/6/2016 giữa ông P và bà M là hợp đồng có hiệu lực pháp luật.
Tại biên nhận ngày 26/6/2016 không thỏa thuận thời hạn vay tiền, nên việc ông P khởi kiện tại Tòa án vào tháng 7/2025 đến nay đã quá thời hạn trả nợ, nhưng bà M không trả tiền và cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh đã trả hết nợ cho ông P, nên bà M đã vi phạm hợp đồng vay tài sản đối với ông P.
Ông P cam đoan chữ ký và chữ viết họ tên người nhận tiền biên nhận là của bà Nguyễn Thị Tuyết M, đồng thời cam đoan bà Nguyễn Thị Tuyết M là người vay tiền với bà Nguyễn Thị Tuyết M là bị đơn là cùng một người, nếu sau này phát sinh tranh chấp việc bà M đã trả xong tiền nợ cho ông P, thì ông P chịu trách nhiệm.
Bà Nguyễn Thị Tuyết M đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng bà M không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông P, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà M, nên Hội đồng xét xử không xem xét ý kiến hay yêu cầu của bà M.
Đối với yêu cầu trả tiền lãi, ông P xác định ông P không yêu cầu tính lãi đối với số tiền gốc ông P yêu cầu là 8.170.000 đồng, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tiền lãi.
Từ các nhận định nêu trên và căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh P, buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M chịu trách nhiệm trả cho ông P số tiền vay gốc còn nợ là 8.170.000 đồng (Tám triệu, một trăm bảy mươi nghìn đồng), là phù hợp với quy định tại Điều 463, 466, 688 Bộ luật dân sự năm 2015.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Nguyên đơn ông Trần Thanh P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M phải có trách nhiệm chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 408.500 đồng (Bốn trăm lẻ tám nghìn, năm trăm đồng).
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 357, 463, 466, 688 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 (nay là khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025), điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 , điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh P.
Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M chịu trách nhiệm trả lại cho ông Trần Thanh P số tiền vay gốc còn nợ là 8.170.000 đồng (Tám triệu, một trăm bảy mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M phải có trách nhiệm chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 408.500 đồng (Bốn trăm lẻ tám nghìn, năm trăm đồng).
Nguyên đơn ông Trần Thanh P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông Trần Thanh P toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0006554 ngày 17/7/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng Tháp.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND khu vực 11 - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- TAND tỉnh Đồng Tháp;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Dƣơng Thị Thùy Trang
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: 26/2025/QĐ-SCBSBA
Đồng Tháp, ngày 28 tháng 11 năm 2025
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN SƠ THẨM
Căn cứ Điều 268 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Xét cần sửa chữa, bổ sung bản án do nhầm lẫn trong bản án số: 108/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp đã xét xử vụ án dân sự về việc “Tranh chấp về dân sự hợp đồng vay tài sản”, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Trần Thanh P, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Số C, khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là số C, ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
Người đại diện hợp pháp của ông Trần Thanh P: Bà Nguyễn Thanh V, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số D, ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là số D, ấp B, xã T, tỉnh Đồng Tháp), là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 28/7/2025).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là số A, ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
QUYẾT ĐỊNH:
Sửa chữa, bổ sung Bản án số: 108/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp như sau:
Tại trang số 5, dòng thứ 11 từ trên xuống của Bản án đã ghi:
“Nguyên đơn ông Trần Thanh P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông Trần Thanh P toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0006554 ngày 17/7/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng Tháp”.
Nay sửa chữa, bổ sung như sau:
“Nguyên đơn ông Trần Thanh P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông Trần Thanh P toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0006554 ngày 17/7/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng Tháp”.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND khu vực 11 – Đồng Tháp; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Thùy Trang |