vanban.org

Bản án 108/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Dương Văn H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/3/2024).

Giao bị cáo Dương Văn H cho Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tò…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Dương Văn H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/3/2024).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST
Ngày: 18-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Trung Tính;

2. Ông Bùi Quang Việt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Võ Thắng Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 15/3/2024, ngày 18/3/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 05/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 895/2024/QĐXXST-HS ngày 28/02/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Văn H, sinh ngày 16/12/1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số A đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên siêu thị; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Minh Q và bà Tiểu Thị Mỹ L (chết); có vợ là Phạm Thị Bình N, sinh năm: 1997 và có 01 con là Dương Lập T, sinh năm: 2023; Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/4/2023 đến ngày 10/4/2023. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định hủy biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo Dương Văn H tại ngoại và có mặt.

Bị hại: Anh Cheng Chung Y, sinh ngày: 12/9/2000; quốc tịch: Đài Loan (Trung Quốc); địa chỉ: 3 B, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Anh Cheng Chung Y vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2; địa chỉ: Số C đường P, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh Q1; địa chỉ: Đường D, chung cư H, Phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị Mỹ L1, sinh năm: 1994; địa chỉ: V, Chung cư S, số B, đường số A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 09/2023/GUQ-CT/THISO RETAIL ngày 10/3/2024). Ngày 15/3/2024, bà Hoàng Thị Mỹ L1 có mặt. Sau khi Chủ tọa thay mặt Hội đồng xét xử tuyên nghị án kéo dài, ngày tuyên án là ngày 18/3/2024, bà Hoàng Thị Mỹ L1 đã có đơn xin vắng mặt và vắng mặt vào ngày 18/3/2024.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 29/3/2023, anh Cheng Chung Y (Quốc tịch Đài Loan - Trung Quốc) cùng bạn tên Phạm Tấn T1 đến siêu thị E thuộc Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để mua sắm. Anh Cheng C Yen để ba lô (bên trong có 01 máy tính xách tay nhãn hiệu MSI màu đen, mode I7.11800H, 8GB, SSD 512GB, CTXI3050/4GB; 02 tay cầm chơi Game Xbox 360; 01 thẻ thường trú cho công dân nước ngoài tại Việt Nam mang tên Cheng Chung Y) vào tủ giữ đồ điện tử số 73 của siêu thị E, do thực hiện sai quy trình nên tủ không khóa nhưng anh Cheng C Yen tưởng tủ đã khóa. Sau đó, anh Cheng C Y đi vào bên trong siêu thị mua đồ. Lúc này, Dương Văn H là nhân viên chăm sóc khách hàng của Công ty K “NEEDMEAT” tại siêu thị E đến làm việc thì thấy hộc tủ đựng đồ số 73 không khóa, bên trong có ba lô, H quan sát xung quanh không có ai nên đã lấy trộm ba lô của anh Cheng C Yen bên trong có tài sản nêu trên đem về nhà cất giấu.

Khi anh Cheng C Yen đi đến tủ giữ đồ số 73 thì phát hiện ba lô bị mất trộm, nên đến Công an phường T, thành phố T trình báo. Ngày 01/4//2023, Công an phường T, thành phố T triệu tập Dương Văn H đến làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Dương Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp ba lô bên trong có tài sản nêu trên. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với H để điều tra, xử lý.

Ngày 05/4/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố T có Kết luận định giá tài sản số 102-KV1/KLĐG-HĐĐGTS kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu MSI màu đen, mode I7.11800H; 8GB; SSD: 512GB, CTXI3050/4GB có giá trị là 12.266.000 đồng, 02 tay cầm chơi Game Xbox 360 có giá trị là 336.000 đồng, 01 ba lô hiệu YAME màu xám từ chối định giá tài sản.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 (một) áo thun màu trắng; 01 (một) quần Jean dài màu đen.

* Trách nhiệm dân sự: người bị hại Cheng Chung Y đã nhận lại tài sản bị mất trộm là 01 máy tính xách tay (Laptop) hiệu MSI màu đen, mode I7.11800H; 8GB; SSD: 512GB, CTXI3050/4GB, 02 tay cầm chơi Game Xbox 360, 01 ba lô hiệu YAME màu xám, 01 thẻ thường trú cho công dân nước ngoài tại Việt Nam mang tên Cheng Chung Yen nên không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Bản cáo trạng số 79/CT-VKS-P2 ngày 29/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm,

- Bị cáo Dương Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố. Về động cơ, mục đích phạm tội, bị cáo đã từng bị trộm cắp tài sản nên khi thấy tủ của siêu thị không khóa, bị cáo nghĩ là mình may mắn có lại tài sản khác nên bị cáo đã không kiềm chế được bản thân nên thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo sử dụng tài sản là máy chơi trò chơi điện tử để giải trí, không nhằm mục đích thu lợi bất chính nên khi bị bắt do hành vi phạm tội, bị cáo rất hối hận do trước đây không nhận thức được đầy đủ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra.

- Bị hại - anh Cheng Chung Y đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – chị Hoàng Thị Mỹ L2 là người đại diện theo ủy quyền trình bày ý kiến: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 không có ý kiến và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với bị cáo Dương Văn H.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo Dương Văn H tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định bị cáo Dương Văn H có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản người khác trái pháp luật với tổng số tiền là 12.602.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Dương Văn H thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi nên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Dương Văn H từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù.

Về xử lý vật chứng và yêu cầu bồi thường thiệt hại đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng mức án phù hợp, cha bị cáo đang bị bệnh, vợ chưa có việc làm, con bị cáo đang còn nhỏ nên xin được áp dụng mức án không phải cách ly khỏi xã hội để có điều kiện lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn công khai, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Dương Văn H đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 máy tính xách tay hiệu MSI màu đen, mode I7.11800H; 8GB; SSD: 512GB, CTXI3050/4GB có giá trị là 12.266.000 đồng, 02 tay cầm chơi Game Xbox 360 có giá trị là 336.000 đồng, 01 ba lô hiệu YAME màu xám có tổng giá trị là 12.602.000 đồng. Hành vi này của bị cáo Dương Văn H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi, hậu quả đã được khắc phục, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo cũng vừa hoàn thành việc thực hiện nghĩa vụ quân sự tại địa phương. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về tình tiết tăng nặng, bị cáo không có các tình tiết tăng nặng.

Bị cáo do tham lam nên đã cố ý thực hiện hành vi xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của bản thân, làm ảnh hưởng hình ảnh người Việt Nam trong mắt bạn bè người nước ngoài.

Tuy nhiên, việc bị cáo phạm tội do bộc phát khi thấy tài sản để trong tủ không khóa. Mặt khác, bị cáo Dương Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị xử phạt tù không quá 03 (ba) năm. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo còn có những tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

- Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, người phạm tội đã chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc. Bị cáo đã giao nộp đã Hội đồng xét xử các tài liệu chứng cứ về việc hoàn thành nghĩa vụ quân sự từ tháng 02/2020 đến tháng 01/2022, trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự, bị cáo giữ chức vụ Tiểu đội trưởng, được khen thưởng Giấy khen đã có thành tích trong công tác hỗ trợ địa phương phòng, chống dịch Covid 19 trên địa bàn thành phố T năm 2021 theo Quyết định số 4900/QĐ-UBND ngày 27/9/2021, Giấy khen hoàn thành tốt nghĩa vụ quân sự tại ngũ theo Quyết định số 05/QĐ-UBND ngày 04/01/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, được tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến do đã hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2021 theo Quyết định số 1272/QĐ-LĐ ngày 10/12/2021 của Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 21.

- Bị cáo có hơn 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và do bị cáo giao nộp, bị cáo hiện có nơi cư trú rõ ràng tại Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo có nơi làm việc ổn định tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn A, Chi nhánh Thành phố H từ ngày 26/8/2018 đến nay theo Hợp đồng lao động số BT0386/2018/HĐLĐ/BT ngày 26/8/2018 của Công ty A.

Ngoài ra, tại phiên toà, bị cáo Dương Văn H đã giao nộp các tài liệu chứng cứ về việc con bị cáo mới sinh năm 2023; ba bị cáo đang bị bệnh nặng; Đơn xin xác nhận có sự xác nhận của Tổ trưởng Tổ dân phố nơi cư trú là “bị cáo đang là lao động chính đang trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động”. Sau khi xem xét thận trọng, chặt chẽ các điều kiện để đảm bảo việc hưởng án treo đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt vừa có tác dụng cải tạo, giáo dục, cảnh tỉnh bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội nhưng vẫn phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù và không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội vì bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn, xã hội.

Về các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: 01 (một) áo thun màu trắng; 01 (một) quần Jean dài màu đen là trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội và bị cáo cũng không yêu cầu nhận lại tài sản này nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu, tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự:

- Người bị hại Cheng C Yen không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 không yêu cầu bồi thương thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

8 Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Áp dụng Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Xử phạt bị cáo Dương Văn H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/3/2024).

Giao bị cáo Dương Văn H cho Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt tù của bản án mới theo quy định. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo thun màu trắng; 01 (một) quần Jean dài màu đen.

(theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/215 ngày 15/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Dương Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Bị cáo Dương Văn H, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo theo quy định pháp luật)

Cỡ chữ