- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn P - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn P (tên gọi khác: M) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2024/HSST Ngày 22-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Xuân Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Kim Lan;
2. Ông Hồ Quốc Thánh;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Thuý Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 109/2024/HSST ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 09/8/ 2024 đối với bị cáo: Bùi Văn P ( tên gọi khác: M), giới tính: Nam; sinh ngày 15/8/1991 tại Quảng Trị; nơi ĐKHKTT: Khu phố E, Phường C, thành phố Đ, Quảng Trị; Chỗ ở hiện nay: Thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: lớp 9/12; nghề nghiệp: Phụ xe; con ông Bùi Văn H và con bà Trần Thị T, đều là hưu trí, hiện trú tại: Thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị; gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con đầu; có vợ Đinh Thị T1 (đã ly hôn) và 02 con, sinh năm 2013 và 2018; tiền sự: không có.
- Tiền án: có 02 tiền án, cụ thể:
+ Bản án số 27/2020/HSST ngày 10/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt Bùi Văn P 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 23/4/2021.
+ Bản án số 126/2022/HSST ngày 20/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt Bùi Văn P 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 31/8/2023.
- Về nhân thân:
Trang 1
+ Ngày 07/9/2007, bị Công an P1, thị xã (nay là thành phố) Đông Hà xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
+ Ngày 18/02/2008, bị Công an P1, thị xã (nay là thành phố) Đông Hà xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Đốt các loại pháo trái pháp luật”.
+ Ngày 14/8/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Hà xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Ngày 15/12/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Ngày 15/6/2020, bị U, thành phố Đ áp dụng biện pháp giáo dục tại phường (cai nghiện tại gia đình).
+ Ngày 15/02/2022, bị Công an thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Ngày 11/4/2024, bị Công an P2, thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Ngày 03/7/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 12 tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”.
Bị cáo bị tạm giam trong vụ án do Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
- Bị hại: Ông Trần Thanh H1, sinh năm 1987; trú tại: Khu phố C, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 29/02/2024, Bùi Văn P đi bộ dọc đường L, thành phố Đ thì phát hiện tại phía trước Ki-ốt C ở địa chỉ 01 đường L (thuộc Khu phố G, Phường C, thành phố Đ) có 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc, biển kiểm soát 74K2-0658, có chìa khóa cắm ở ổ khóa điện của xe, không có người trông giữ nên P nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe mô tô này. P quan sát xung quanh rồi lén lút tiến đến vị trí chiếc xe mô tô, ngồi lên xe, khởi động máy rồi nhanh chóng tẩu thoát theo hướng đường Q để tìm nơi tiêu thụ. Do không tiêu thụ được nên bị cáo điều khiển xe mô tô trên về nhà. Để tránh bị phát hiện, Bùi Văn P đã tháo biển số xe bỏ vào cốp, dán tem decal màu đỏ lên màu sơn của xe rồi sử dụng làm phương tiện đi lại. Đến 20 giờ 00 phút ngày 11/03/2024, trong lúc P đang điều khiển chiếc xe mô tô nói trên lưu thông dọc đường H, thành phố Đ thì bị Công an thành phố Đ phát hiện và mời về làm việc.
Trang 2
Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc, số máy 5C63 084240, số khung RLCS5C6308Y084240; 01 biển kiểm soát 74K2-0658, nền màu trắng, chữ in nổi màu đen.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 702/KL-HĐĐGTS ngày 26/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: Trị giá của 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc, số máy 5C63 084240, số khung RLCS5C6308Y084240, không gắn biển kiểm soát, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 6.000.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 111CT-VKS-ĐH ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã truy tố bị cáo Bùi Văn Phú (tên gọi khác: Mèo) về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn P (tên gọi khác: M) phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo cáo Bùi Văn P (tên gọi khác: M) từ 09 đến 12 tháng tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 03/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Gio Linh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là từ 21 đến 24 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bị hại là anh Trần Thanh H1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì, nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án
Trang 3
cũng như nội dung bản cáo trạng đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 29/02/2024, Bùi Văn P đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của người khác. Tài sản Bùi Văn P chiếm đoạt được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: có trị giá 6.000.000 đồng. Như vậy, hành vi của Bùi Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Điều luật quy định khung hình phạt: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Xét về tính chất hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là một thanh niên có sức khỏe, có nhận thức pháp luật nhưng lười lao động, thích hưởng thụ, đã nhiều lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng không cải tạo, sửa chữa để trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội, mà tiếp tục cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm minh với hình phạt tù có thời hạn nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, trong đó, Bản án số 126/2023 của Toà án nhân dân thành phố Đông Hà có 03 lần thực hiện hành vi nhưng tang số đều dưới 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình thuộc hộ cận nghèo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ban hành Quyết định số 708/QĐ-ĐCSHS về xử lý vật chứng, trả lại cho ông Trần Thanh H1 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius và 01 biển kiếm soát 74K2-0658; ông H1 không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Bùi Văn P (tên gọi khác: M) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Trang 4
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Văn P (tên gọi khác: M): 12 (Mười hai) tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 03/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Gio Linh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/3/2024.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND TP Đông Hà; - Công an TP Đông Hà; - Thi hành án hình sự; - Sở tư pháp; - Chi cục THADS TP Đông Hà; - Bị cáo; - Bị hại; Người có QLNVLQ; - Lưu: HS, THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Xuân Hương Trang 5 |