vanban.org

Bản án 108/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 17/06/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/06/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị L.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 189/2023/HS-ST, ngày06/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giangkhông có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét đến. Về án phí: Căn c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự phúc thẩm - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 108/2024/HS-PT
Ngày: 17-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Chọn Bà Nguyễn Diệu Hiền

- Thư ký phiên tòa: ÔngNguyễn Tấn Đạt-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:BàHuỳnh Thị Cẩm Loan-Kiểm sát viên.

Ngày 17tháng6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý phúc thẩm số:200/2023/TLPT-HS ngày04tháng 12năm 2023 đối với bị cáo Trương Thị Mỹ Hdo có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 189/2023/HS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dânthành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. *Bị cáocó kháng cáo:

1.Trương Thị Mỹ H, sinh năm 1975 tạihuyện C, tỉnh Kiên Giang. Nơi thường trú: số 47 tổ D, khu phố M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12;dân tộc: Hoa; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Thái Pvà bà Huỳnh Thị T; có chồng là Lê Văn M(đã ly hôn)và 02 người con; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2021 đến ngày 28/01/2022được tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Quốc N - Luật sư Công ty TNHH P1 -Chi nhánh thành phố H, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H(có mặt) * Bị hại có kháng cáo:Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968 (có mặt) Địa chỉ: A N, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Bùi Thị T1 - Luật sưVăn phòng L1và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K(có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 4/2019, Trương Thị Mỹ Hvà Huỳnh Văn H1sống với nhau như vợ chồng. Trong thời gian này, H1có nói với Hvề việc H1cho bà Nguyễn Thị L mượn số tiền 70.000.000đ, đã nhiều lần tìm bà Lđòi tiền nhưng bà Lkhông trả (ông H1đã làm đơn khởi kiện bà Lđến Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá vào ngày 10/01/2019). Đến khoảng 06 giờ ngày 13/4/2019, H1điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68X1-157.06 chở Hđến quán cà phê gần nhà của Lchờ tìm Lđể đòi tiền. Sau đó, Hthấy Lđiều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68M5 - 3572 đi về hướng phường Anên liền thuê một người chạy xe ôm (không rõ tên, địa chỉ) chở chạy theo L. Khi đi gần đến cầu R, Hnói đi theo Lịch để đòi nợ nên người chạy xe ôm không tiếp tục chở Hmà cho Hxuống xe. Lúc này, H1đi đến tiếp tục chở Hchạy theo L. Khi đến trước công viên văn hóa A, thuộc khu phố A, phường A, thành phố R, H1thấy Lchạy xe chậm lại nên đã dừng xe để Hxuống xe chạy bộ đến chặn xe Lịch để đòi tiền. Lúc này, Hxuống xe chạy bộ một đoạn khoảng 10m thì đuổi kịp L. Khi thấy xe của Lngã xuống lề đường, Lbị xe đè lên người, Hliền xông đến dùng chân đạp vào người Lrồi dùng tay giật lấy túi xách Lịch đang đeo trên vai. Lúc này, Lliền tri hô “Cướp, Cướp” thì ôngVõ Văn T2là cán bộ Công an phường Ađang làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự trước cổng công viên Atrông thấy vụ việc nên đến mời H, Lvà H1về trụ sở Công an phường Alàm việc. Qua kiểm tra, trong túi xách của Lcó 2.677.000đ;01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Huawei.

Qua điều tra, Trương Thị Mỹ Hkhai nhận việc để giật túi xách của Nguyễn Thị Llà do ông Huỳnh Văn H1kêu, nhưng ông H1không thừa nhận. Do chỉ có lời khai của Hnên Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Huỳnh Văn H1.

* Vật chứng thu giữ gồm:

- Tiền Việt Nam: 2.677.000đ (hai triệu sáu trăm bảy mươi bảy nghìn đồng);

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 222 màu trắng, số Imei 353708076016568 đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Y7Pro 2019, màu xanh, số Imei 867615042589439 đã qua sử dụng;

- 01 (một) túi xách màu đen không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng.

Tại Kết luận định giá số 77/KL-HĐĐG ngày 10 tháng 5 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rkết luận:

- 01 (một) túi xách màu đen không rõ nhãn hiệu đã qua sử dụng, có giá trị là 10.000đ (mười nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 222 màu trắng, số Imei 353708076016568 đã qua sử dụng có giá trị là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Y7Pro 2019, màu xanh, số Imei 867615042589439 đã qua sử dụng có giá trị là 2.680.000đ (hai triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).

Tổng cộng: 2.890.000đ (hai triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng).

Các vật chứng trên, trong giai đoạn điều tra Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả lại cho bị hại.

*Tại Bản án hình sự sơ thẩm số:189/2023/HS-ST, ngày06/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 168; Điều 38 Bộ luật hình sự:

- Tuyên bốbị cáoTrương Thị Mỹ H phạm tội “Cướp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Trương Thị Mỹ H03 năm 06 tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày vào chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2021 đến ngày 28/01/2022.

Ngoài ra bản án sơ thẩm cònquyết định về trách nhiệm dân sự và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi tuyênbản án sơ thẩm:

- Ngày 18/9/2023,bị cáoTrương Thị Mỹ Hcó đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt.

- Ngày 18/9/2023, bị hại Nguyễn Thị Lcó đơn kháng cáo với nội dungyêu cầu hủy bản án sơ thẩm đểđiều tra, truy tố, xét xử đối với Huỳnh Văn H1và xử bị cáo Htheo điểm đ khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự; yêu cầu buộc bị cáo Hphải bồi thường 29.000.000đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Trương Thị Mỹ Hcó ý kiến thừa nhận cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội cướp tài sản là đúng hành vi bị cáo đã thực hiện; giữ nguyên kháng cáo xin giảm hình phạt,đồng thời cung cấp tài liệu thể hiện đã bồi thường cho bà L29.000.000đ đúng theo yêu cầu của bà Lđưa ra.

- Bị hại Nguyễn Thị Lcó ý kiến rút lại toàn bộ nội dung kháng cáo đã nêu trong đơn kháng cáo; thừa nhận đã nhận của bị cáo H29.000.000đ tiền bồi thường thiệt hại, không yêu cầu bồi thường gì thêm; yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho bị cáo H.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang có ý kiến cho rằng cấp sơ thẩm có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với ông Huỳnh Văn H1và việc điều tra chưa đầy đủ dẫn đến chưa đủ chứng cứ làm rõ những tình tiết liên quan đến việc định khung hình phạt đối với bị cáo H; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số:189/2023/HS-ST, ngày06/9/2023của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Giao hồ sơ vụ án về Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang điều tra lại.

- Người bào chữa cho bị cáo Hcó ý kiến: ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thật sự rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 29.000.000đ; bản thân bị cáo đang bị bệnh phải điều trị kéo dài, nên bị cáo cócác tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, mà các tình tiết này khi xét xử sơ thẩm bị cáo không có và chưa được áp dụng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Lcó ý kiến đồng ý theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nêura tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo và bị hạivề nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Nguyễn Thị L rút lại toàn bộ nội dung kháng cáo. Thấy rằng, việc rút kháng cáo của bị hại Llà tự nguyện và không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại L.

Về bản án sơ thẩm:

Ngày 13/4/2019, bị cáo Trương Thị Mỹ Hdùng chân đạp vào người Nguyễn Thị L,liền sau đó dùng taygiật lấy túi xách bà Lđang đeo trên vai rồi định bỏ đi, bà Lhô “cướp, cướp” thì có ôngVõ Văn T2là cán bộ Công an phường A đang làm nhiệm vụ gần đó đến can thiệp và đưa mọi người về trụ sở Công an phường làm việc. Qua kiểm tra, trong túi xách của bà Lcó 2.677.000đ;01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Huawei. Kết quả điều tra xác định tài sản bị cáo Hchiếm đoạt của bà Lcó tổng giá trị là 5.567.000đ. Do đó cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáo Hvề tội cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định.

Về kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo H:

Khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào, nên cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 3 năm 6 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội.Tuy nhiên, đến khi xét xử phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 29.000.000đ theo đúng yêu cầu của bị hại, mặc dù tài sản chiếm đoạt đã thu giữ và hoàn trả lại cho bị hại ngay sau khi thực hiện hành vi, đồng thời bị hại cũng không bị ảnh hưởng gì đến sức khỏe phải điều trị và tài sản cũng không bị hư hỏng gì; bị hại có ý kiến xin giảm hình phạt cho bị cáo; bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội do nhận thức phạm luật có phần hạn chế. Từ đó áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm một phần hình phạt cho bị cáo là thỏa đáng. Đồng thời thấy rằng có thể áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát:

Về sự liên quan của ông Huỳnh Văn H1đối với hành vi phạm tội của bị cáo H: Theo chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai tại phiên tòa của bị cáo Hvà bị hại Lịch thể hiện, nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo Hcó hành vi dùng vũ lực (dùng chân đạp vào người) đối với bàLđể chiếm đoạt tài sản là do có sự tranh chấp về tiền vay mượn giữa ông H1và bà L, ông H1có kêu bị cáo Hđi tìm bà Lđể đòi tiền. Tuy nhiên, không có chứng cứ xác định giữa bị cáo Hvà ông H1đã bàn bạc, thống nhất sẽ dùng vũ lực đối với bà Lnhư thế nào để chiếm đoạt tài sản, đồng thời cũng không có chứng cứ xác định ông H1trực tiếp dùng vũ lực đối với bà L, tạo điều kiện cho bị cáo Hchiếm đoạt tài sản của bà, bởi lẽ:

Trong quá trình điều tra, bà Lcó nhiều lời khai không thống nhất với nhau, lúc thì cho rằng bị cáo Hgiật túi xách của bà làm xe bà bị ngã, lúc thì cho rằng do ông H1tác động làm xe bà bị ngã rồi bị cáo Hdùng chân đạp vào người bà sau đó giật túi xách, lúc thì cho rằng bị cáo Hlà người đạp vào xe bà làm xe bị ngã. Cụ thể, tại biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm lập ngày 13/4/2019 (bút lục 01) bà trình bày một người nam, một người nữ chạy xe áp sát, người nữ bước xuống dùng tay giật túi xách của tôi, làm xe tôi ngã; tại đơn yêu cầu khởi tố ngày 18/4/2019 thì bà lại trình bày ông H1chạy áp sát bên trái xe tôi, bất ngờ xô đẩy xe của tôi làm ngã xe; tại biên bản lấy lời khai ngày 13/4/2019 (bút lục 90) thì bà lại cho rằng ông H1chạy xe đến phía sau chở một người phụ nữ, cúp đầu xe tôi, tôi dừng xe lại thì Hbước xuống xe, đạp xe tôi ngã rồi Htrực tiếp lấy cặp màu đen của tôi; tại biên bản lấy lời khai ngày 8/5/2019 (bút lục 88) thì bà cho rằng H1đậu xe phía sau 1-2 mét, người phụ nữ xuống xe chạy vị trí tôi dùng chân đạp, giật túi xách; tại biên bản đối chất lập ngày 03/8/2021 (bút lục 113) thì bà lại cho rằng ông H1dùng tay và chân xô ngã xe…

Đối với lời khai của những người làm chứng cũng chỉ cho biết chứng kiến sự việc từ lúc bị cáo Hdùng chân đạp vào người bà Lvà giật túi xách của bà, còn diễn biến trước đó họ không nhìn thấy, không biết xe bà Ldo đâu bị ngã, do ai tác động. Đồng thời, họ cho biết thấy ông H1ở cách đó một đoạn, chứ không ở ngay vị trí bị cáo Hthực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bà L.

Như vậy cho thấy, mặc dù nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo Hcó hành vi dùng vũ lực đối với bà Lđể chiếm đoạt tài sản là do có sự tranh chấp về tiền vay mượn giữa ông H1và bà L, ông H1có kêu bị cáo Hđi tìm bà Lđể đòi tiền. Tuy nhiên, giữa bị cáo Hvà ông H1không bàn bạc, thống nhất sẽ dùng vũ lực đối với bà Lnhư thế nào để chiếm đoạt tài sản của bà, nhưng bị cáo Hlại bột phát tự thực hiện hành vi dùng vũ lực đối với bà Lđể chiếm đoạt tài sản của bà, nên bị cáo Hphải tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Mặt khác, để xem xét sự liên quan của ông Huỳnh Văn H1đối với hành vi phạm tội của bị cáo H,thì Tòa án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát yêu cầu điều tra bổ sung, đề nghị xem xét xử lý trách nhiệm của ông H1. Tuy nhiên, kết quả điều tra bổ sung Viện kiểm sát xác định không đủ căn cứ kết luận ông H1đồng phạm với bị cáo Hvà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo H. Vì vậy, do giới hạn xét xử theo truy tố của Viện kiểm sát mà pháp luật tố tụng hình sự quy định, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xét xử và kết án bị cáo Hlà phù hợp.

Về xác định khung hình phạt áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo H: Từ chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của bị hại Lịchxác định được, khi sự việc xảy ra bà Lđang chạy xe với tốc độ rất chậm, bị cáo Hchạy bộ theo kịp và khi bà Lbị ngã xe thì bị cáo dùng chân đạp vào người bà Lrồi dùng tay giật túi xách của bà, hậu quả xảy ra không gây thiệt hại gì đến sức khỏe của bà L, chiếc xe cũng không bị hư hỏng gì. Như vậy, hành vi của bị cáo Hkhông thuộc trường hợp dùng phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáo Htheo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định.

Từ các phân tích trên, xét thấy không cần thiết hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm điều tra lại như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, mà chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Việc sửa bản án sơ thẩm là do bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mới, Tòa án cấp sơ thẩm không sai, không có lỗi. [6] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 189/2023/HS-ST ngày06/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giangkhông có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét đến.

Về án phí, căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáoHvà bị hại Lkhông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị L.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị Mỹ H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 189/2023/HS-ST, ngày06/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. 3. Căn cứ khoản 1 Điều 168; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Thị Mỹ H07 (bảy) tháng 04 (bốn) ngày tù về tội“Cướp tài sản“, được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2021 đến ngày 28/01/2022. Như vậy bị cáo Hđã chấp hành xong hình phạt tù.

4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 189/2023/HS-ST, ngày06/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giangkhông có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét đến.

5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo và bị hạikhông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ