vanban.org

Bản án 108/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Lê Thị Thúy H. Buộc Chị Nguyễn Thị L trả cho Chị Lê Thị Thúy H số tiền 12.

Kể từ ngày Chị Lê Thị Thúy H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Chị Nguyễn Thị L chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. 2/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 639.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "hằng long"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Lê Thị Thúy H. Buộc Chị Nguyễn Thị L trả cho Chị Lê Thị Thúy H số tiền 12.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/DS-ST
Ngày: 26/4/2024.
V/v tranh chấp “Hợp đồng mua bán”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Trần Xuân Văn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Dũng.

Ông Huỳnh Bảo Nguyên.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hiển, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 441/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc tranh hợp đồng mua bán theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thúy H; sinh năm 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện C, tỉnh T.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L; sinh năm: 1970 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp M, xã H, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03/8/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Chị Lê Thị Thúy H trình bày: Chị buôn bán trái cây tại chợ Cái Bè. Từ ngày 04 đến ngày 06/5/2023 âl, Chị L có mua trái cây của chị với tổng số tiền 12.780.000 đồng. Sau khi nhận hàng, ngày 19/5/2023 âl Chị L đã viết biên nhận hẹn ngày 25/5/2023 âl sẽ trả tiền nhưng không thực hiện nên Chị H khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn trả 01 lần số tiền trên sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án Chị Lê Thị Thúy H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn Chị Nguyễn Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp giữa Chị Lê Thị Thúy H với Chị Nguyễn Thị L là tranh chấp hợp đồng mua bán thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Lê Thị Thúy H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Chị Nguyễn Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt Chị H, Chị L.

Xét yêu cầu khởi kiện của Chị Lê Thị Thúy H: Trong quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn đã đưa ra được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là bản chính biên nhận do Chị L trực tiếp viết và ký tên vào ngày 19/5/2023 âl. Bị đơn Chị L từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử không đến dự theo giấy triệu tập của Tòa án mà không có lý do, cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo khoản 2, Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh…”. Như vậy có đủ cơ sở xác định giao dịch vay mượn tiền giữa hai bên là có thật, nên yêu cầu khởi kiện của Chị Lê Thị Thúy H là có cơ sở chấp nhận. Do Chị H không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị đơn Chị L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, các Điều 147, 227, 228, 238, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 440, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ vào nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Lê Thị Thúy H. Buộc Chị Nguyễn Thị L trả cho Chị Lê Thị Thúy H số tiền 12.780.000 đồng.

Kể từ ngày Chị Lê Thị Thúy H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Chị Nguyễn Thị L chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

2/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 639.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho Chị Lê Thị Thúy H 319.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012920 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.

3/ Chị Lê Thị Thúy H, Chị Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ