- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoàng K phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2023/HS-ST Ngày: 26 - 10 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hưởng
Ông Phạm Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Hoàng K, tên gọi khác: Biu; Sinh ngày 27/7/1996, tại tỉnh Long An; Nơi ĐKTT: Ấp 1, xã B, huyện B, tỉnh Long An; Chỗ ở: Ấp 6, xã B, huyện B, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; con ông Trần Công T1 và bà Võ Thị E; bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: có 02 tiền án
Tại Bản án số 39/2018/HS-ST ngày 21/6/2018, Trần Hoàng K bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, ngày 07/5/2019 chấp hành xong hình phạt tù;
Tại Bản án số 06/2020/HS-ST ngày 07/7/2020, Trần Hoàng K bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, ngày 26/02/2022 chấp hành xong hình phạt tù;
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/6/2023 đến ngày 05/7/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B cho đến nay. Có mặt;
- Bị hại:
Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Ấp 7, xã N, huyện B, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Huỳnh Thị Ngọc A, sinh năm 1999
Địa chỉ: Ấp K, xã B, huyện B, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 24/6/2023, Trần Hoàng K có 02 tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản đi bộ cùng Huỳnh Thị Ngọc A (sống như vợ chồng với K) từ Khu công nghiệp Ấp 5, xã T, huyện T vào đến khu vực Ấp 7, xã N, huyện B để uống nước. Khi đang đi trên đường liên Ấp 7 - Ấp 8, xã N thì cả hai nảy sinh mâu thuẫn cãi nhau, A bỏ đi ra hướng Cổng Văn hóa Ấp 7, còn K tiếp tục đi về hướng đường tỉnh 832, đi được khoảng 10m, K thấy nhà ông Huỳnh Văn C, ngụ Ấp 7, xã N không có cửa rào, phía trước có dựng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng-đen, biển số 62G1-123.62 của chị Nguyễn Thị Bé T (con dâu ông C), có sẵn chìa khóa, không người trông coi. K quan sát xung quanh thấy không có ai nên đi bộ đến vị trí xe 62G1-123.62, quay đầu xe hướng ra đường, lên xe mở khóa nổ máy chạy ra cổng Ấp 7, xã N khoảng 50m gặp A, K kêu A lên xe chở đi thì A hỏi xe của ai thì K nói xe mượn của bạn, sau đó K sử dụng xe 62G1-123.62 làm phương tiện đi lại. Sáng ngày 28/6/2023, chị T đến Công an xã N trình báo việc mất xe. Trưa ngày 28/6/2023, A lấy xe 62G1-123.62 đi ra quán cà phê gần cầu B thuộc Ấp 1, xã N thì bị Công an xã N kiểm tra, lúc này A mới biết xe trên do K trộm mà có, sau đó mời K về trụ sở làm việc thì khai nhận hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 62G1-123.62 của chị T ngày 24/6/2023.
Tại Kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐG ngày 04/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, định giá: xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng-đen, biển số 62G1-123.62, trị giá 7.500.000đ.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hoàng K hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Tại bản Cáo trạng số 99/CT-VKSBL ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Hoàng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Hoàng K mức hình phạt từ 03 năm đến 04 năm tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Hoàng K.
Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng-đen biển số 62G1-123.62, thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Bé T, hiện cơ quan CSĐT Công an huyện B trả cho chị T xong nên không đề nghị xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Bé T đã nhận lại tài sản bị mất không yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xem xét.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Hoàng K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Hoàng K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại trong quá trình điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường cùng với bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐG ngày 15/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Bị cáo Trần Hoàng K có 02 tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản đáng lẽ bị cáo phải biết ăn năn hối cải, tu chí làm ăn nhưng bị cáo lại chây lười lao động muốn có tài sản làm của riêng mình mà không phải bỏ sức lao động nên vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 24/6/2023, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chị Nguyễn Thị Bé T đã lén lút lấy trộm một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng-đen biển số 62G1-123.62, trị giá 7.500.000đ đang dựng trước nhà ở Ấp 7, xã N, huyện B để làm phương tiện đi lại.
Hành vi của bị cáo Trần Hoàng K đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo K có 02 tiền án thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Hoàng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo Trần Hoàng K là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo Trần Hoàng K vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Do đó, hành vi của bị cáo Trần Hoàng K cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trần Hoàng K trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, bị cáo có bà ngoại được nhận huy chương kháng chiến hạng nhì. Do đó, xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Trần Hoàng K là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo K còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có lời trình bày hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng-đen biển số 62G1-123.62, thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Bé T, hiện cơ quan CSĐT Công an huyện B trả cho chị T xong nên không đề cập xem xét.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Bé T đã nhận lại tài sản bị mất không yêu cầu bị cáo K bồi thường gì thêm nên không đề cập xem xét.
. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Hoàng K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Hoàng K 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2023.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Hoàng K 45 ngày kể từ ngày tuyên án (26/10/2023) để đảm bảo thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Trần Hoàng K nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
3. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện B; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện B; - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện B; - Sở Tư pháp tỉnh Long An; - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Thảnh |