- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị M và anh Trần Văn Q.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRUỜNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21-8-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị M và anh Q. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hồng Minh;
Ông Trần Đình Phấn.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Phương-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 60/2023/TLST-HNGĐ ngày 24/5/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/7/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/8/2023 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn Kim T, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương; vắng mặt; chị M có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Văn Q, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm 3, xã X, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai quá trình giải quyết nguyên đơn chị Hoàng Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn Q tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân đã được Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04/5/2015. Sau khi lấy nhau vợ chồng ở với gia đình anh Q một thời gian sau đó anh Q đi làm ăn ở Quảng Ninh. Trong quá trình chung sống vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm. Anh Q ham chơi không quan tâm chăm lo cho gia đình, đi làm không mang tiền về để cho chị nuôi con, chán nản cuộc sống vợ chồng sống không hạnh phúc. Từ đầu năm 2017 đến nay chị không chung sống với anh Q nữa, chị về nhà bố mẹ đẻ để ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm hạnh phúc đã tan vỡ không thể níu kéo được hạnh phúc nên nguyện vọng của chị là được xin ly hôn anh Trần Văn Q
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Trần Ngọc H, sinh ngày 27/9/2015; hiện con đang ở với chị, khi ly hôn chị xin nhận nuôi con và không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị có cửa hàng bán thuốc tây, mức thu nhập bình quân khoảng 8 triệu đồng/tháng.
Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Trần Văn Q, anh Q không có mặt ở địa phương, Tòa án đã làm thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng nhưng rồi anh Q không đến Tòa án để làm việc, không gửi ý kiến bằng văn bản của mình cho Tòa án về việc chị Mxin ly hôn.
Kết quả thu thập chứng cứ tại UBND xã X.
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị M không có hộ khẩu tại xã Xuân Phương, còn anh Trần Văn Quan là người có hộ khẩu tại xã Xuân Phương.
Chị Hoàng Thị Minh và anh Trần Văn Quan tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân đã được Ủy ban nhân dân xã , huyện T, tỉnh Hải Dương đăng ký kết hôn vào ngày 04/5/2015. Chị M và anh Q mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng có tiếng nói chung. Mấy năm nay chị M và anh Q không chung sống với nhau. Anh Q không có mặt tại địa phương, khi Tòa án có giấy báo anh Q công an xã đã tống đạt các giấy báo của Tòa án cho gia đình và thông báo nội dung nhưng gia đình anh Q không nhận giấy báo. Tòa án đã làm thủ tục niêm yết công khai tại cơ sở và UBND xã, anh Q đã biết việc chị Minh xin ly hôn. Anh Q vẫn thường xuyên đi về quê. Căn cứ vào lời trình bày của chị M cũng như thực trạng hôn nhân của các bên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị Minh và anh Q là phù hợp.
* Về con chung: Chị M anh Q có 1 con chung tên Trần Ngọc H, sinh ngày 27/9/2015. Khi ly hôn chị M xin nhận nuôi con và không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng. Để đảm bảo quyền lợi của cháu bé cũng như căn cứ vào thực tế thì chị Mh nhận nuôi con và không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng là phù hợp, vì vậy đề nghị Tòa án giao chị M được tiếp tục nuôi con.
* Về tài sản: Chị M và anh Q không có tài sản ở địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử , các đương sự tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật
Nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị M và anh Trần Văn Q
Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị M tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con Trần Ngọc H, sinh ngày 27/9/2015. Anh Trần Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
Về tài sản: Chị M không yêu cầu Tòa án xem xét là phù hợp.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị M và anh Trần Văn Q kết hôn hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, nay chị M có đơn xin ly hôn anh Trần Văn Q, anh Q không có măt ở địa phương, Tòa án đã làm thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng nhưng anh Q không đến Tòa án để làm việc, không gửi ý kiến của mình cho Tòa án về việc chị Minh xin ly hôn. Điều đó chứng tỏ anh Q không thiết tha mặc mà với cuộc sống chung vợ chồng. Xét thấy, mẫu thuẫn giữa chị Minh và anh Q là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nay chị Minh xin ly hôn anh Q là phù hợp với thực tế và pháp luật nên HĐXX chấp nhận xử ly hôn giữa chị M và anh Q theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị M và anh Q có 1 con chung là Trần Ngọc H, sinh ngày 27/9/2015. Nay ly hôn chị M xin nhận nuôi con và không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng. Xét chị M xin nhận nuôi con là phù hợp cũng như ghị nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX sẽ giao cho chị M tiếp tục nuôi con theo quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản; Chị M không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết là phù hợp.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị M và anh Trần Văn Q.
2. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Mi tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con Trần Ngọc H, sinh ngày 27/9/2015. Anh Trần Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản: Chị M không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hoàng Thị M phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0003236 ngày 24/5/2023 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; chị Hoàng Thị M đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh: 01 bản; - VKSND tỉnh + huyện: 02 bản; - Chi cục THADS huyện: 01 bản; - UBND xã X: 01 bản;. -UBND xã : 01 bản ; - Các đương sự : 02 bản; - Lưu hồ sơ: 02 bản; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Phạm Ngọc Long |