vanban.org

Bản án 108/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho bà Dư Mỹ X ly hôn đối với ông Vũ Hoàng E.

Về nuôi con: Có một người con tên Vũ Duy T, sinh ngày 01/10/2017 (nam), hiện nay cháu Tường đang sống với bà X. Khi ly hôn, giao cháu Vũ Duy T cho bà Dư Mỹ X trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Hoàng E có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Dư Mỹ X ly hôn đối với ông Vũ Hoàng E.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 14-12-2023
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Diệu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Chính.

Bà Phan Thị Trang Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Công là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Ngày 14 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 195/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Dư Mỹ X, sinh năm 1992 (xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp Tân T, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Vũ Hoàng E, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp 4, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn, bà Dư Mỹ X trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Dư Mỹ X và ông Vũ Hoàng E có thời gian tìm hiểu và kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2016, có tổ chức đám cưới gã theo phong tục của địa phương. Hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Lý do ly hôn: Quá trình chung sống lúc đầu hạnh phúc, đến cuối năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm dẫn đến mất hạnh phúc và vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên bà X yêu cầu ly hôn với ông Vũ Hoàng E.

- Về con chung: Có một người con tên Vũ Duy T, sinh ngày 01/10/2017 (nam), hiện nay cháu Tường đang sống với bà X, khi ly hôn bà X yêu cầu nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về công nợ: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Vũ Hoàng E: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy định mà ông Hoàng E không có văn bản trình bày ý kiến của mình về việc bà Dư Mỹ X yêu cầu ly hôn, về việc nuôi con, cấp dưỡng cho con, chia tài sản chung và công nợ; Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 02 lần Thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Hoàng Evẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng

Bà Dư Mỹ X yêu cầu ly hôn với ông Vũ Hoàng E, yêu cầu nuôi con chung ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Đây là tranh chấp “Xin ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; do ông Hoàng E cư trú tại ấp 4, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Dư Mỹ X có đơn xin vắng mặt phiên xét xử vì đang đi làm tại tỉnh Bình Dương, việc xin nghỉ phép và điều kiện đi lại khó khăn nên không thể có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, yêu cầu này của bà X là chính đáng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ông Vũ Hoàng E đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do nên căn cứ khoản 2 Điêu 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Hoàng E.

. Về nội dung vụ án

- Về hôn nhân: Bà Dư Mỹ X và ông Vũ Hoàng E có thời gian tìm hiểu và kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2016, có tổ chức đám cưới gã theo phong tục của địa phương. Đến năm 2017, bà X và ông Hoàng E mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, giấy chứng nhận kết hôn số 70/2017 ngày 13/10/2017, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa bà Dư Mỹ X và ông Vũ Hoàng E được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Bà Dư Mỹ X cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn năm 2017, nguyên nhân do bất đồng quan điểm và ly thân từ đó đến nay, bà X yêu cầu ly hôn với ông Vũ Hoàng E. Tòa án đã triệu tập ông Vũ Hoàng E nhiều lần để tham gia hòa giải và xét xử nhưng ông vắng mặt không lý do và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu ly hôn của bà X, cho thấy ông Hoàng E không thiện chí hàn gắn hôn nhân. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự đã đến mức trầm trọng, có duy trì cũng không mang lại hạnh phúc cho đôi bên nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dư Mỹ X với ông Vũ Hoàng E theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về nuôi con: Có một người con tên Vũ Duy T, sinh ngày 01/10/2017 (nam), hiện nay cháu Tường đang sống với bà X, khi ly hôn bà X yêu cầu nuôi con, ông Vũ Hoàng E không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu nuôi con của bà X. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Tường hiện nay tuy chưa được 07 tuổi (06 năm 01 tháng 13 ngày tuổi) nhưng qua làm việc, khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng chung sống với mẹ. Mặt khác, từ khi hai đương sự sống ly thân cho đến nay, cháu Tường được bà X một mình chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu vẫn phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Tường nên giao cháu Vũ Duy T cho bà Dư Mỹ X trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

- Việc cấp dưỡng nuôi con, về chia tài sản, nợ thu và nợ trả: Các đương không yêu cầu Tòa án giải quyết, căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét là có cơ sở.

- Về án phí: Bà Dư Mỹ X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà X được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 147, 220, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56 và Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 281 Bộ luật dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Cho bà Dư Mỹ X ly hôn đối với ông Vũ Hoàng E.

Về nuôi con: Có một người con tên Vũ Duy T, sinh ngày 01/10/2017 (nam), hiện nay cháu Tường đang sống với bà X. Khi ly hôn, giao cháu Vũ Duy T cho bà Dư Mỹ X trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Hoàng E có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Việc cấp dưỡng nuôi con, về chia tài sản: Các đương sự tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ thu và nợ trả: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Dư Mỹ X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng, bà X được khấu trừ số tiề n tạ m ứ ng á n phí 300.000 đồ ng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0016266 ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn, bà X không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ