vanban.org

Bản án 108/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Lê Thị N. Chị Lê Thị N được ly hôn với Anh Nguyễn Đức T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 06/12/2012 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T chưa yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Lê Thị N. Chị Lê Thị N được ly hôn với Anh Nguyễn Đức T.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-8-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Viển.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Văn Hạnh.

2. Bà Trần Thúy Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị N - sinh năm 1993.

Địa chỉ: Số 23/5, tổ 10, ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ liên hệ: Số 40D/14A, đường H , phường 14, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T - sinh năm 1985.

Địa chỉ: Số nhà 23/5, ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

(Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/02/2023; bản tự khai ngày 28/3/2023 nguyên đơn là Chị Lê Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và Anh Nguyễn Đức T tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 25/5/2012. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau nên vợ chồng thường hay bất đồng quan điểm sống. Vì những điều này mà vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất hòa với nhau và đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh T nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với Anh Nguyễn Đức T.

- Về con chung: Chị và Anh Nguyễn Đức T có 01 con chung là Nguyễn Duy K, sinh ngày 06/12/2012. Khi ly hôn chị đồng ý giao cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng và chị không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản khai ngày 06/4/2023, bị đơn Anh Nguyễn Đức T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý với lời trình bày của chị N về thời gian kết hôn. Về mâu thuẩn vợ chồng thì anh cũng thừa nhận giữa anh và chị N xảy ra mâu thuẩn năm 2022 vì tính tình vợ chồng không hợp nhau. Anh và chị N đã không còn quan tâm chăm sóc cho nhau từ năm 2022 đến nay. Nay anh nhận thấy cũng không vẫn còn tình cảm yêu thương đối với chị N nên chị N xin ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý.

- Về con chung: Anh và chị N có 01 con chung là Nguyễn Duy K, sinh ngày 06/12/2012. Khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị N không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thủ tục thu thập chứng cứ đúng quy định; quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật.

Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh T cũng đồng ý ly hôn với chị N nên yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.

Về con chung: Chị N và anh T có 01 con chung là Nguyễn Duy K, sinh ngày 06/12/2012. Khi ly hôn, chị N đồng ý giao cháu K cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy kể từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu K sống cùng với anh T, được anh T chăm sóc tốt các cháu phát triển bình thường, khỏe mạnh; cháu K cũng có nguyện vọng được sống cùng với anh T. Vì vậy, để tránh xáo trộn về sinh hoạt, tâm lý của con chung nên giao cháu K cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T chưa yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị N chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn Anh Nguyễn Đức T hiện cư trú tại xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Chị Lê Thị N yêu cầu khởi kiện ly hôn với Anh Nguyễn Đức T, yêu cầu giải quyết về con chung nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về xác định tư cách đương sự: Chị Lê Thị N là nguyên đơn; anh Nguyễn Đức T là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn Chị Lê Thị N và bị đơn Anh Nguyễn Đức T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Chị N và anh T tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 25/5/2012 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của Chị Lê Thị N, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị N và anh T đều thừa nhận cuộc sống vợ chồng giữa chị N và anh T đã xảy ra những bất đồng, mâu thuẫn và hai người đã tự chấm dứt đời sống chung của vợ chồng. Tại Điều của 19 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình…có nghĩa vụ sống chung với nhau”. Tuy nhiên, kể từ khi chị N anh T không còn sống chung với nhau thì hai người cũng không quan tâm, chăm sóc, không thực hiện quyền nghĩa vụ chung của vợ chồng. Anh T cũng đồng ý ly hôn với chị N.

Qua xem xét lời trình bày của chị N anh T có đủ căn cứ xác định vợ chồng chị N anh T thật sự đã có mâu thuẫn, vợ chồng đã không còn quan tâm chăm sóc nhau, vi phạm quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, dẫn đến hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, cuộc sống vợ chồng giữa chị N anh T đã có mâu thuẫn, khả năng đoàn tụ không có nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, giải quyết cho chị N được ly hôn với anh T theo Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị N và anh T có là Nguyễn Duy K, sinh ngày 06/12/2012. Khi ly hôn, chị N đồng ý gia con chung là cháu cháu K cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, kể từ khi chị N anh T sống ly thân, cháu K sống cùng với anh T được anh T chăm sóc tốt phát triển bình thường, khỏe mạnh, được đi học. Mặc khác, cháu cháu K cũng có nguyện vọng được ở anh T. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử xét cần giao cháu K cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T chưa yêu cầu.

Chị N có quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị N chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, 10, 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1) Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Lê Thị N. Chị Lê Thị N được ly hôn với Anh Nguyễn Đức T.

2) Về con chung: Giao cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 06/12/2012 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T chưa yêu cầu.

Chị N có quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3) Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.

4) Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai số 0004176 ngày 21/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ. Chị N đã nộp đủ án phí.

5) Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị N và Anh Nguyễn Đức T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ