- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2022/HS-ST Ngày 26-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Minh T.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị K
Bà Lý Thị Thiên N
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức H - Thư ký Toà án nhân dân quận N, thành phố H.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H tham gia phiên toà: Ông Lê H - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận N, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2022 và Thông báo thời gian thay đổi lịch phiên tòa số 135/TB-TA ngày 22 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Đào Anh T, sinh ngày 14 tháng 12 năm 1973 tại H, nơi ĐKHKTT: Số 14/285 đường Lê Lợi, phường Lê Lợi, quận N, thành phố H, nơi tạm trú: Số 43/275 đường Lê Lợi, phường Lê Lợi, quận N, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đào Văn Lập và bà Bùi Thị Tiến; có vợ là Nguyễn Thị Thu H và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2014; nhân thân, tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 12/5/2022; tạm giam từ ngày 19/5/2022; có mặt.
- Bị hại:
+ Ngân hàng Thương mại Cổ phẩn C Việt Nam; địa chỉ trụ sở: Số 108 đường T, phường C, quận H, thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phẩn C Việt Nam: Ông Nguyễn Lê S, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phẩn C Việt Nam - Chi nhánh N; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Đào Anh T đã nảy sinh ý định cướp tài sản ngân hàng. Khoảng 14 giờ ngày 11/5/2022, T chuẩn bị 01 khẩu súng tự chế, 07 viên đạn, 01 đôi giày thể thao, 01 kính râm và 01 bộ quần áo rồi cho tất cả vào 01 túi xách thể thao. Sau đó, T gọi điện cho ông Vũ Bá B, sinh năm 1960; nơi cư trú: Số 54/275 Lê Lợi, N, H (là hàng xóm của T) nhờ đón để đi có việc, ông B đồng ý. Khi ông B đến nơi, T chủ động điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Mio BKS 15B2 - 76526 chở theo ông B đi đến khu vực vườn hoa Cung văn hóa V. Đến nơi, T đưa xe mô tô cho ông B đi về, rồi một mình đi bộ vào khu vực cầu thang cạnh Cung văn hóa. T mặc bộ quần áo chống nắng đã chuẩn bị từ trước ra ngoài bộ quần áo đang mặc, bịt khẩu trang, đeo kính để không ai nhận ra rồi đi vào ngân hàng Thương mại cổ phần C Việt Nam (Vbank) - Phòng giao dịch L, chi nhánh Vbank N, địa chỉ: Số 72 L, N, H. T đẩy cửa kính bước vào trong ngân hàng, rút súng trong túi xách ra, lên đạn chĩa vào các nhân viên và hô “đưa tiền đây, không tao bắn chết”. Khi đó không có khách hàng tại phòng giao dịch, các nhân viên ngân hàng đều sợ hãi, hoảng loạn, chui xuống gầm bàn trốn và nói thời điểm này tại ngân hàng không có tiền mặt. Lúc này, anh Nguyễn Xuân Huy là nhân viên ngân hàng bấm chuông báo động.
Thấy nguy cơ bị bắt giữ, T cất súng vào trong túi xách rồi đã bỏ chạy vào ngõ 72 L. Khi vào ngõ T nhìn thấy ông Lê Thành N, sinh năm: 1965, nơi cư trú: 25/41/88 P, phường N, quận L là bảo vệ bãi xe ô tô trong ngõ, T hỏi mượn ông N 01 xe mô tô nhưng ông N bảo không có, chỉ có xe đạp. T bỏ đi thì gặp anh Lương Trọng Nghĩa, sinh năm 1992, nơi cư trú: Số 4/40/303 Chợ Hàng, phường Dư H, quận Lê Chân, H đang điều khiển xe mô tô đi ngang qua; T nhờ anh N chở đến ngách 25/229 H, T xuống xe đi bộ sang ngõ 173 H. Quan sát xung quanh vắng người, T cởi quần áo cho vào túi rồi đi bộ về ngõ 18 L. Trên đường đi T giấu túi xách vào phía sau chậu hoa của nhà dân, sau đó T gọi điện cho ông B đến đón. Khoảng 17 giờ ông B chở T đi đến ngõ số 4 L ngồi uống nước. T bảo ông B ngồi chờ còn T lấy xe mô tô đi vào ngõ 18 L lấy túi xách rồi quay lại cất giấu trong ngõ 4 L, Sau đó, T cùng ông B đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày thì T bị bắt giữ tại nhà.
Tại Cơ quan công an, T thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và khai khẩu súng T sử dụng để đi cướp tài sản được mua của một người đàn ông không quen biết cách đây khoảng 10 năm với giá khoảng 10.000.000 đồng tại khu vực cửa khẩu biên giới Lạng Sơn, còn 07 viên đạn T mua tại khu vực chờ Trời (cạnh chợ Đồng Xuân), T không nhớ rõ mua đạn vào thời gian nào, của ai, với giá bao nhiêu. T để súng và đạn ở trong kho không nói cho ai biết, khi có việc sẽ sử dụng.
Kết luận giám định số 11/KL-PC09 ngày 19 tháng 5 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H kết luận: Khẩu súng gửi giám định là súng tự chế, bắn đạn ghém cỡ 12, thuộc vũ khí quân dụng. Các viên đạn gửi giám định là đạn ghém cỡ 12 thuộc súng săn, không phải vũ khí quân dụng, các viên đạn này sử dụng bắn được bằng khẩu súng trên (hoàn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N 01 khẩu súng gửi giám định, còn 07 viên đạn giám định viên đã sử dụng để thực nghiệm).
Về vật chứng vụ án:
01 điện thoại di động Iphone 6 Plus của chị Nguyễn Thị Thu H (vợ của T), 01 cuộn băng dính, 01 khẩu trang, 01 túi vải màu xám, 01 túi nilon màu đen, 01 mũ lưỡi trai màu xanh, 01 áo thun ngắn tay màu ghi, 01 quần lửng màu đen, 01 đôi dép xỏ ngón màu trắng, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị H.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Mio BKS 15B2 – 76526, ông B và T sử dụng vào ngày 11/5/2022, quá trình điều tra xác định xe mô tô là của chị Nguyễn Thị Thu H, chị H không biết T sử dụng xe mô tô để đi cướp tài sản, sau khi sự việc xảy ra do cần tiền chi tiêu nên chị H đã bán chiếc xe mô tô trên cho một người không quen biết.
01 khẩu súng dài 65cm, 01 áo chống nắng màu tím than, 01 quần dài màu đen, 01 đôi giày thể thao, 01 kính đen, 01 túi xách thể thao đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận N.
Về trách nhiệm dân sự: Do T chưa lấy được tiền nên Ngân hàng Vbank không yêu cầu bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 109/CT-VKSNQ ngày 29/8/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H đã truy tố bị cáo Đào Anh T về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, bị cáo Đào Anh T khai nhận hành vi phạm tội như trên và xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo khai và gia đình bị cáo xuất trình tài liệu tại phiên tòa thể hiện bị cáo có bố đẻ là ông Đào Văn Lập được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, Huân chương chiến công hạng Nhì; có mẹ đẻ là Bùi Thị Tiến được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba.
Đại diện bị hại được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, có lời khai trong hồ sơ thể hiện Ngân hàng Thương mại cổ phần C Việt Nam không bị thiệt hại gì về người và tài sản do hành vi của bị cáo T gây ra nên không yêu cầu bồi thường và đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38; 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Anh T mức án từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 01 năm đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 năm đến 10 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 168 và khoản 5 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Ngân hàng Vbank không yêu cầu bồi thường nên không đặt vấn đề giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 khẩu súng tự chế dài 65cm giao Bộ Chỉ huy quân sự thành phố H quản lý. 01 áo chống nắng màu tím than, 01 quần dài màu đen, 01 đôi giày thể thao, 01 kính đen, 01 túi xách thể thao không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
Căn cứ vào lời khai của bị cáo Đào Anh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 11/5/2022, tại Phòng giao dịch L - ngân hàng Vbank chi nhánh N, địa chỉ: Số 72 L, N, H; bị cáo Đào Anh T đã sử dụng súng tự chế thuộc vũ khí quân dụng đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc làm các nhân viên ngân hàng hoảng sợ, không thể chống cự được để bị cáo chiếm đoạt tài sản. Đồng thời bị cáo Đào Anh T có hành vi cất giữ khẩu súng tự chế thuộc vũ khí quân dụng trong khoảng 10 năm. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H đối với bị cáo Đào Anh T về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền nhân thân, quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trị an xã hội nên cần cách li bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và có ý thức phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Đào Văn Lập được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, Huân chương chiến công hạng Nhì; có mẹ đẻ là Bùi Thị Tiến được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, theo quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 168 và khoản 5 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự:
Ngân hàng Vbank không yêu cầu bồi thường và nên không đặt vấn đề giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
01 khẩu súng tự chế dài 65cm cần chuyển Bộ Chỉ huy quân sự thành phố H xử lý theo quy định của pháp luật
01 áo chống nắng màu tím than, 01 quần dài màu đen, 01 đôi giày thể thao, 01 kính đen, 01 túi xách thể thao không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Đào Anh T và bị hại Ngân hàng Vbank được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với những người đã bán khẩu súng và đạn cho T, do T khai không biết tên tuổi, lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N không có căn cứ để xử lý.
Trong vụ án này, ông Vũ Bá B không biết việc T sử dụng súng để cướp tài sản ngân hàng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N không xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 1 điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38; 55 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đào Anh T 07 (bẩy) năm tù về tội “Cướp tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 5 năm 2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo chống nắng màu tím than, 01 quần dài màu đen, 01 đôi giày thể thao, 01 kính đen, 01 túi xách thể thao theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận N, thành phố H.
Giao Bộ Chỉ huy quân sự thành phố H xử lý theo quy định 01 khẩu súng tự chế dài 65cm.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Đào Anh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Đào Anh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C Việt Nam được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố H; - VKSND quận N; - TAND thành phố H; - Cơ quan điều tra Công an quận N; - Chi cục THADS quận N; - Cơ quan Thi hành án hình sự quận N; - PV 06 Công an thành phố H; - Sở Tư pháp thành phố H; - Trại tạm giam Công an thành phố H; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh T |