- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2022/HS-ST Ngày 14/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vũ Thanh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Vương Tấn Độ
- Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Cương -Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 130/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Văn C; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1990, tại: AG; Hộ khẩu thường trú: 297/25/45 , phường BTĐ, quận B, Thành phố HCM; Chỗ ở: Không nơi nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Lê Văn L, sinh năm: 1968; Họ và tên mẹ: Lê Thị Kim C, sinh năm: 1968; Vợ: Huỳnh N, sinh năm: 1991; Bị cáo có 01 người con: sinh năm: 2007;
- Tiền án: không
- Tiền sự: Ngày 21/8/2020 Tòa án nhân dân Quận 6 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đến ngày 24/10/2021 được trả về địa phương.
Nhân thân: Ngày 14/4/2011, Tòa án nhân dân Quận 6 xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 51/2011/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù 04/9/2013. Bị cáo đã chấp hành xong án phí 200.000 đồng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/11/2021 (Bị cáo có mặt).
* Những người tham gia tố tụng:
Bị hại: Anh Danh T, sinh năm 2001. Địa chỉ: Số 180 đường L, phường T, quận P, Thành phố HCM; (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 11/11/2021, Lê Văn C đi từ nhà số 297/25/45 Tân Hòa Đông, khu phố 13, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân đến đường Tỉnh Lộ 10, quận Bình Tân tìm kiếm xe máy sơ hở để lấy trộm, đem bán lấy tiền để mua ma túy. Trước khi đi, Có chuẩn bị sẵn công cụ để trộm cắp là 03 đầu đoản sắt có chiều dài khác nhau và cất tại túi quần sau bên trái. Đến 21 giờ 36 phút cùng ngày, khi đến nhà số 449 Tỉnh Lộ 10, phường An Lạc A, quận Bình Tân, Có phát hiện 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh bạc biển số 65K1-473.34 của Anh Danh T đậu trước cửa nhưng cửa nhà đóng, không có ai trông coi, quản lý nên Có nảy sinh ý định lấy trộm xe. Có dùng 01 đầu đoản sắt (đầu dài nhất) trong 03 đầu đoản sắt để đưa vào ổ khóa xe mô tô để vặn mở khóa thì đèn và còi báo động của xe kêu lên, Có bỏ lại đầu đoản sắt trong ổ khóa xe và bỏ chạy. Có chạy về phía hẻm số 452 Tỉnh Lộ 10 được khoảng 200m thì bị tổ tuần tra Công an quận Bình Tân truy bắt cùng với 02 đầu đoản trong túi quần. Tổ công tác áp giải đối tượng về Công an phường An Lạc A, quận Bình Tân lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ:
- 01 xe mô tô biển số 65K1-473.34 loại Wave màu xanh đen bạc, số khung 3918LY185502, số máy JA39E1523418. Công an quận Bình Tân trả lại chủ sở hữu Anh Danh T.
- 01 ổ khóa xe của xe mô tô biển số 65K1-473.34. Đã trả chủ sở hữu.
- 01 thanh kim loại màu trắng có hai đầu tròn, trên thân có ký hiệu 8CHROOME-VANADIUM 10 dài 10cm; 01 thanh kim loại dài khoảng 5cm, có một đầu dẹp và một đầu lục giác; 01 thanh kim loại dài khoảng 3cm, có một đầu vuông dẹp và một đầu lục giác; 01 thanh kim loại dài khoảng 3cm, có một đầu dẹp vuông và một đầu lục giác.
- 01 nón kết màu kem, 01 áo sơ mi dài tay màu xám, 01 quần Jean dài màu đen, 01 đôi dép xốp màu đen (đã qua sử dụng).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 710/KL-HĐĐGTS ngày 16/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Bình Tân, kết luận: Chiếc xe mô tô biển số 65K1-473.34, đã qua sử dụng có giá 14.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Danh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Bản cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 19/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Văn C ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của bị cáo Có, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo Có với mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng; Về hình phạt bổ sung và trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.
Bị cáo Có không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra - Công an quận Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi: Vào lúc 21 giờ 36 phút ngày 11/11/2021, tại trước nhà số 449 Tỉnh lộ 10, phường An Lạc A, quận Bình Tân. Bị can Có đã thực hiện hành vi dùng đoản sắt lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 65K1-473.34, giá trị là 14.000.000 đồng của Anh Danh T, sau đó bị bắt quả tang cùng vật chứng, như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong vụ án.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 710/KL-HĐĐGTS ngày 16/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Bình Tân, kết luận: Chiếc xe mô tô biển số 65K1-473.34, đã qua sử dụng có giá 14.000.000 đồng.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tổng tài sản bị cáo trộm cắp trị giá 14.000.000 đồng, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, khi bị cáo đưa cây đoản vào ổ khóa xe mô tô để vặn mở khóa thì đèn và còi báo động của xe kêu lên, Có bỏ lại đầu đoản sắt trong ổ khóa xe và bỏ chạy. Việc bị cáo không chiếm đoạt được tài sản là ngoài ý muốn của bị cáo, do đó hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự. Vì vậy, ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đánh giá nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Có về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Có thuộc trường hợp cố ý phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa cho toàn xã hội.
Ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu. Do đó phải có mức án thật nghiêm đối với bị cáo.
Tuy nhiên khi lượng hình, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về hình phạt bổ sung: Không.
Về dân sự: Bị hại là Anh Danh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với: 01 (Một) xe mô tô biển số 65K1-473.34 loại Wave màu xanh đen bạc, số khung 3918LY185502, số máy JA39E1523418; 01 (Một) ổ khóa xe của xe mô tô biển số 65K1-473.34. Công an quận Bình Tân trả lại chủ sở hữu Anh Danh T. Hội đồng xét xử không xem xét;
- Đối với: 01 thanh kim loại màu trắng có hai đầu tròn, trên thân có ký hiệu 8CHROOME-VANADIUM 10 dài 10cm; 01 thanh kim loại dài khoảng 5cm, có một đầu dẹp và một đầu lục giác; 01 thanh kim loại dài khoảng 3cm, có một đầu vuông dẹp và một đầu lục giác; 01 thanh kim loại dài khoảng 3cm, có một đầu dẹp vuông và một đầu lục giác; 01 nón kết màu kem, 01 áo sơ mi dài tay màu xám, 01 quần Jean dài màu đen, 01 đôi dép xốp màu đen (đã qua sử dụng). Hội dồng xét xử xét các vật chứng trên là công cụ, phương tiện phạm tội và xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
Về án phí: Bị cáo Lê Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn C: 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kim loại màu trắng có hai đầu tròn, trên thân có ký hiệu 8CHROOME-VANADIUM 10 dài 10cm; 01 thanh kim loại dài khoảng 5cm, có một đầu dẹp và một đầu lục giác; 01 thanh kim loại dài khoảng 3cm, có một đầu vuông dẹp và một đầu lục giác; 01 thanh kim loại dài khoảng 3cm, có một đầu dẹp vuông và một đầu lục giác; 01 nón kết màu kem có ký hiệu Kevin, 01 áo sơ mi dài tay màu xám, 01 quần Jean dài màu đen, 01 đôi dép kẹp màu đen (đã qua sử dụng).
(Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ các vật chứng trên theo Phiếu nhập kho số NK22/65TAM ngày 19/01/2022).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: -VKSND TP.HCM; - VKSND Q.Bình Tân; - CQĐTCA Q.Bình Tân; - CQ THAHSCA Q.Bình Tân; - NTG CA Q.Bình Tân; - Phòng PC64- CATPHCM; - Sở Tư pháp; - Chi cục THADS Q.Bình Tân; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án –Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Vũ Thanh Phương |