vanban.org

Bản án 108/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Căn cứ Điều 14, Điều 53 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Không công nhận quan hệ giữa bà Trịnh Thị S và ông Trịnh Xuân T là vợ chồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 19 -7-2022
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Sương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Lương Khoa

2. Ông Nguyễn Văn Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diến- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 148/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị S, sinh năm: 1972

Nơi cư trú: Ấp M, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Ông Trịnh Xuân T, sinh năm: 1965

ĐKTT: Ấp M, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trịnh Thị S trình bày: Bà và ông Tri ̣nh Xuân T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1990 ta ̣i xa Xuân Hưng, huyê ̣̃

n Xuân Lô ̣c, tỉnh Đồng Nai cho đến nay nhưng không đăng ký kết hôn.

Quá trinh chung sống vợ chồng sống không có hạnh phúc, thường xuyên xảỳ ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tinh không hò

̀a hợp; ông T hay ghen tuông vô cớ, chửi bới, đánh đập và nhục mạ bà. Do không chi ̣u đựng được nên năm 2018 bà không còn chung sống với ông T nữa, mỗi ngườ i đều có cuô ̣c sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay bà không còn tình cảm gì vớ i ông T nên yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: ông bà có 03 con chung là cháu tên Trịnh Thị T2, sinh năm: 1991; Trịnh Thị Thanh T1, sinh năm: 1995 và Trịnh Anh X, sinh năm 2003. Hiện nay các con đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; nợ chung: Không có nên bà không yêu cầu.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trịnh Xuân T đa được tống đạt̃ hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trinh bà

̀y.

Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, còn bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật tố tu ̣ng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Bà Trịnh Thị S và ông Trịnh Xuân T không đăng ký kết hôn theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t, do dó, đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử không công nhâ ̣n vợ chồng đối vớ i bà Sáng và ông T.

Về con chung: Hiện 03 con chung Trịnh Thị T2, sinh năm: 1991; Trịnh Thị Thanh T1, sinh năm: 1995 và Trịnh Anh X, sinh năm 2003 đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về Thủ tục tố tụng: Bà Trịnh Thị S có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; ông Trịnh Xuân T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bà Trịnh Thị S, ông Trịnh Xuân T là phù hợp.

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Tri ̣nh Thi ̣ Sáng nhận thấy: Bà Sáng trinh̀ bày bà và ông Tri ̣nh Xuân T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1990 ta ̣i xã Xuân Hưng, huyê ̣n Xuân Lô ̣c, tinh Đổ

̀ng Nai cho đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trinh chung sống vợ chồng sống không có hạnh phúc, thường xuyên xảy rà mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp; ông T hay ghen tuông vô cớ, chửi bới, đánh đập và nhục mạ bà. Do không chi ̣u đựng được nên năm 2018 bà không còn chung sống với ông T nữa, mỗi ngườ i đều có cuô ̣c sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay bà không còn tình cảm gì vớ i ông T nên yêu cầu được ly hôn với ông T. Xét thấy, ta ̣i Đơn xác nhâ ̣n tình tra ̣ng hôn nhân ngày

́ 28/02/2022 của bà, Ban Âp 1 và UBND xa Xuân Hưng xã

́c nhâ ̣n viê ̣c bà Tri ̣nh Thi ̣ Sáng và ông Tri ̣nh Xuân T chung sống vớ i nhau ta ̣i đi ̣a phườ ng từ trướ c tớ i nay nhưng không có đăng ký kết hôn”; Qua các tài liê ̣u, chứ ng cứ thể hiê ̣n bà Sáng, ông T có 03 ngườ i con chung là Trịnh Thị T2, sinh năm: 1991; Trịnh Thị Thanh T1, sinh năm: 1995 và Trịnh Anh X, sinh năm 2003. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định bà Sáng, ông T chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Ông T, bà Sáng có đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nhưng không đăng ký kết hôn, nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 14 của luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Sáng và ông T là phù hợp quy đi ̣nh tại Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Hiện 03 con chung của bà S và ông T là Trịnh Thị T2, sinh năm: 1991; Trịnh Thị Thanh T1, sinh năm: 1995 và Trịnh Anh X, sinh năm 2003 đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, bà Sáng không yêu cầu gi, ông T vắng mặt̀ không có lời khai nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà S trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông T vắng mặt không có lời khai nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà S phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Xét ý kiến của đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Xuân Kiểm sát viên ta ̣i phiên tòa là phù hợp vớ i các tài liê ̣u, chứ ng cứ đa thu thâ ̣̃

p, quy đi ̣nh pháp luâ ̣t; phù hợp vớ i nhâ ̣n đi ̣nh của Hô ̣i đồng xét xử nên chấp nhâ ̣n.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Căn cứ Điều 14, Điều 53 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không công nhận quan hệ giữa bà Trịnh Thị S và ông Trịnh Xuân T là vợ chồng.

Về con chung: Chi ̣ Trịnh Thị T2, sinh năm: 1991; Chi ̣ Trịnh Thị Thanh T1, sinh năm: 1995 và anh Trịnh Anh X, sinh năm 2003 đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, nên không xem xét giải quyết.

2. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

3. Về án phí: Bà Trịnh Thị S phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngà n đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngà n đồng) bà Sáng đã nộp theo biên lai thu số 0006239 ngày 04 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được chuyển thành án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Bà Trịnh Thị S, ông Trịnh Xuân T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ