- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T/c xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2022/HNGĐ-ST Ngày 23-12-2022 V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi dưỡng con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tuấn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Hồng Hạnh
2. Ông Lê Hoàng Long
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Phục Hưng – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 23 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 198/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi dưỡng con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 631/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 643/2022/QĐST ngày 07 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1990. Có mặt
Trú tại: ấp Trường Ninh 2, xã T X A, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở: ấp 7, xã Thuận Hưng, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1987. Vắng mặt
Trú tại: ấp Trường Ninh 2, xã T X A, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
3. Người có quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ:
3.1. Nguyễn Vũ Kh (nam), sinh ngày 15/5/2006
3.2. Nguyễn Thị Hồng Th (nữ), sinh ngày 08/10/2012
Cùng trú tại: ấp Trường Ninh 2, xã T X A, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trình bày của các đương sự, vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Nguyễn Thị Hồng T với anh Nguyễn Văn K tự nguyện tìm hiểu rồi tiến tới xây dựng hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trường Xuân, huyện Thới Lai vào ngày 17/9/2013. Thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc và có với nhau 02 con chung tên Nguyễn Vũ Kh (nam), sinh ngày 15/5/2006; Nguyễn Thị Hồng Th (nữ), sinh ngày 08/10/2012. Đến năm đầu năm 2022 bắt đầu có những mâu thuẩn, anh K mua ghe chở hàng thuê vài tháng mới về nhà, bỏ mặt vợ con, chị và các con phải tự kiếm việc làm để sống. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn K. Về con chung: Yêu cầu được nuôi dưỡng các con đến trưởng thành, chị không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Đối với bị đơn, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Hồng T khởi kiện xin ly hôn, nuôi dưỡng con chung với anh anh Nguyễn Văn K nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình; bị đơn cư trú ấp Trường Ninh 2, xã T X A, huyện Thới Lai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thới Lai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, nên xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh K tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 17/9/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T X A, huyện Thới Lai nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên tắc của hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Xét chị T trình bày, mâu thuẩn vợ chồng ngày càng nhiều từ đầu năm 2019 đến nay, anh K mua ghe chở hàng thuê vài tháng mới về nhà, bỏ mặt vợ con, chị và các con phải tự kiếm việc làm để sống. Đối với anh K đã được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng, triệu tập xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy anh không còn Thết tha gì đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Qua đó thể hiện, mâu thuẫn gia đình anh chị thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nay chị T yêu cầu xin ly hôn với anh K là có căn cứ nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Vũ Kh (nam), sinh ngày 15/5/2006; Nguyễn Thị Hồng Th (nữ), sinh ngày 08/10/2012. Hiện các con đang sống với chị T, nguyện vọng của các cháu cũng muốn theo sống với mẹ, do đó cần giao các cháu cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con. Song, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con là Thêng liêng nên người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Dành cho anh K quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở anh K thực hiện quyền này.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không có nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Vũ Kh (nam), sinh ngày 15/5/2006; Nguyễn Thị Hồng Th (nữ), sinh ngày 08/10/2012 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh K, không ai được quyền cản trở anh K thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không có nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
4. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hồng T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số 0005628 ngày 03/10/2022 (chị T đã thực hiện xong).
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án; đối với bị đơn được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được Th hành theo quy định tại Điều 2 Luật Th hành án dân sự thì người được Th hành án dân sự, người phải Th hành án dân sự có quyền thỏa thuận Th hành án, quyền yêu cầu Th hành án, tự nguyện Th hành án hoặc bị cưỡng chế Th hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Th hành án dân sự; thời hiệu Th hành án đươc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Th hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND H. Thới Lai; - Chi cục THADS H. Thới Lai; - TAND TP. Cần Thơ; - UBND xã Thới Thạnh; - Lưu hồ sơ vụ án | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Tuấn Kiệt |