- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự đối với Nguyễn Duy H và Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy H và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2021/HS-ST Ngày: 08 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành và bà Vũ Thị Linh.
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Thái Long - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trí- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) thành phố (TP.) Chí Linh, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2021/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 11 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Duy H; sinh năm 1996 tại: Huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ĐKNHTT: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; con ông Nguyễn Duy B (Đã chết) và bà Nguyễn Thị N; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án: Tại Bản án số 23/2020/HS-ST ngày 05/5/2020, TAND TP. Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt H 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". H chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/3/2021; bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/8/2021 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương - Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn T; sinh năm 1997 tại thành phố (TP.) C, tỉnh Hải Dương; nơi ĐKNHTT: Thôn B, xã H, TP. C, tỉnh Hải Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; con ông Nguyễn Văn Th và bà Trần Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 25/8/2021 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương - Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Vũ Quang H, sinh năm 1969 và chị Đỗ Thị S, sinh năm 1971. Cùng trú tại: KDC số 2, phường P, TP. C, tỉnh Hải Dương - Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi liên quan:
1. Anh Trần Đức C, sinh năm 1983; địa chỉ: KDC số 1 phường P, TP. C, tỉnh Hải Dương- Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Chị Bùi Thị C, sinh năm 1974; địa chỉ: KDC số 3 phường P, TP. C, tỉnh Hải Dương- Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Người làm chứng: Ông Bùi Đức Đ; sinh năm 1960; địa chỉ: KDC số 1 phường P, TP. C, tỉnh Hải Dương - Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền tiêu sài cá nhân nên Nguyễn Duy H đã 03 lần đến nhà anh Vũ Quang H, sinh năm 1969 và chị Đỗ Thị S, sinh năm 1971; trú tại: KDC số 2, phường P, TP. C, tỉnh Hải Dương trộm tài sản của gia đình anh H, chị S, trong đó H một mình thực hiện 02 lần và cùng với Nguyễn Văn T thực hiện 01 lần, cụ thể là:
Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 26/7/2021, Nguyễn Duy H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave (Xe H đi mượn không nhớ biển số) từ nhà mẹ đẻ ở thôn B, xã H, TP. C, tỉnh Hải Dương đến khu vực phường P, TP. C mục đích tìm nhà dân nào để tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khi đi đến nhà anh H và chị S thấy không có ai ở nhà, có một nhà kho ở cạnh Quốc lộ 18, H dựng xe đi bộ xung quanh nhà phát hiện một ô kính cửa sổ bên trái nhà bị vỡ kính, nên đã thò tay vào mở chốt cửa và chui vào trong nhà quan sát tại nền nhà có 04 cây sắt (phi) 18, nhãn hiệu Việt- Đức, dài 11,7 m, nên H lấy từng cây sắt đút qua cửa sổ ra ngoài rồi buộc 04 cây sắt vào sau xe mô tô kéo đi dọc Quốc lộ 18 hướng về S để bán lấy tiền. Khi đi đến địa phận phường V, TP. C, H gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lý lịch, bán 04 cây sắt cho người này được số tiền là 800.000 đồng. H đã chi tiêu cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 45 ngày 18/8/2021, Hội đồng định giá tài sản thành phố Chí Linh kết luận: Tại thời điểm ngày 26/7/2021, 04 cây sắt Việt- Đức 18, dài 11,7 m có giá 1.600.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 23 giờ ngày 27/7/2021, H tiếp tục điều khiển xe mô tô trên đến nhà anh H và chị S, thấy không có ai nên H để xe mô tô ở ngoài rồi chui vào lối cũ lấy 03 can nhựa màu xanh loại 20 lít, bên trong các can nhựa chứa 60 lít dầu diesel, để ở trong kho, đưa qua cửa sổ ra ngoài rồi H để lên xe mô tô chở đi, trên đường đi H gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lý lịch và bán cho người này 03 can dầu được 650.000 đồng. H đã chi tiêu cá nhân hết số tiền trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 45 ngày 18/8/2021, Hội đồng định giá tài sản thành phố Chí Linh kết luận: Tại thời điểm ngày 27/7/2021, 03 can nhựa màu xanh loại 20 lít, có giá 18.000 đồng; 60 lít dầu diesel, có giá 970.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 988.000 đồng.
Lần thứ ba: Khoảng 09 giờ ngày 29/7/2021, Nguyễn Duy H điều khiển xe mô tô trên đến nhà Nguyễn Văn T là bạn rủ T cùng đi trộm cắp tài sản, T đồng ý. Khi đi H điều khiển xe mô tô chở T đi đến nhà anh H và chị S thấy không có ai nên T ở ngoài cảnh giới, H chui vào lối cũ vào trong nhà kho lấy: 01 cửa sổ sắt kích thước (0,61x1,5)m, nặng 11 kg ở bức tường tiếp giáp giữa phòng ngủ và kho đưa ra ngoài cho T để ở rìa tường nhà. H tiếp tục vào trong nhà lấy 03 thanh sắt hình trụ, 01 thanh 36, dài 41cm, 02 thanh 27, dài 88cm có tổng trọng lượng 03 kg đưa ra ngoài để ở rìa nhà rồi cùng T khiêng tiếp 01 bộ cửa xếp loại hai cánh đã qua sử dụng, trọng lượng 110 kg đưa ra để ở ngoài. Sau đó H cùng T đi sang nhà kho của anh H và chị S ở đối diện cùng nhau dùng tay tháo cánh cửa kho bằng sắt để ra rìa nhà, H vào trong lấy 01 cuộn sắt 06, nhãn hiệu Việt- Đức, có trọng lượng 17 kg, 01 bàn sắt nặng 13 kg, lần lượt đưa cho T để ra ngoài. Sau đó H và T khiêng bộ cửa xếp để lên xe mô tô, T ngồi sau giữ, H điều khiển xe mô tô đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Trần Đức C, sinh năm 1983, địa chỉ KDC số 1, phường P, TP. C, tỉnh Hải Dương (anh C không biết tài sản do trộm cắp mà có) bán cho anh C bộ cửa xếp được 1.067.000 đồng. Sau đó H, T tiếp tục quay lại lấy cuộn sắt 6 đem đi bán cho một người đàn ông không quen biết ở khu vực phường C, TP. C, tỉnh Hải Dương được 170.000 đồng rồi cả hai quay lại mang toàn bộ số tài sản còn lại (01 cửa sổ sắt, 01 cửa sắt, 03 thanh sắt hình trụ, 01 bàn sắt) mang đến bán cho chị Bùi Thị C; sinh năm 1974; địa chỉ KDC số 3, phường P, TP. C, tỉnh Hải Dương là người thu mua sắt vụn (chị C không biết tài sản do trộm cắp mà có) được 370.000 đồng. Số tiền do bán tài sản H và T chia đôi và chi tiêu cá nhân hết. Sau khi mua số tài sản trên, chị C bán lại cho anh C. Khi biết số tài sản mà H và T bán là tài sản do trộm cắp mà có, anh C đã giao nộp lại cho cơ quan điều tra; số tài sản còn lại các đối tượng bán cho người đàn ông trên đường không thu giữ được.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 45 ngày 18/8/2021, Hội đồng định giá tài sản thành phố Chí Linh kết luận: Tại thời điểm ngày 29/7/2021, 01 bộ cửa xếp loại hai cánh đã qua sử dụng, đã rỉ sét trọng lượng 110 kg, có giá 1.100.000 đồng; 01 cửa sắt kích thước (1,8x0,8)m, nặng 14 kg, có giá trị 700.000 đồng; 01 cửa sổ sắt kích thước (0,61x1,5)m, nặng 11 kg, có giá trị 450.000 đồng; 01 bàn sắt, mặt bàn kích thước (1,2x0,64)m, có 04 chân làm bằng sắt chữ V, cao 0,63 m, nặng 13 kg, có giá 400.000 đồng; 03 thanh sắt hình trụ, 01 thanh 36 dài 41cm, 02 thanh 27 dài 88cm, có tổng trọng lượng 03 kg, có giá 30.000 đồng; 01 cuộn sắt 6, nhãn hiệu Việt- Đức, có tổng trọng lượng 17 kg, có giá trị 300.000 đồng. Tổng tài sản trị giá là 2.980.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản 03 lần Nguyễn Duy H chiếm đoạt của gia đình anh H là 5.568.000 đồng. Nguyễn Văn T chiếm đoạt 01 lần của gia đình anh H tài sản trị giá 2.980.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 90/CT-VKS-CL ngày 31/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố Nguyễn Duy H và Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, nay đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy H và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 25/8/2021.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 08 đến 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 25/8/2021.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về trách nhiệm dân sự và án phí của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của Nguyễn Duy H và Nguyễn Văn T tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ kết luận: Từ ngày 26/7/2021 đến ngày 29/7/2021, Nguyễn Duy H đã 03 lần và Nguyễn Văn T 01 lần đến nhà anh Vũ Quang H và chị Đỗ Thị S, địa chỉ tại KDC số 2, phường P, TP. C, tỉnh Hải Dương trộm cắp tài sản của anh H và chị S, cụ thể: Khoảng 11 giờ ngày 26/7/2021, Nguyễn Duy H trộm cắp 04 cây sắt 18 có giá trị 1.600.000 đồng; khoảng 23 giờ ngày 27/7/2021, Nguyễn Duy H trộm cắp 03 can nhựa chứa 60 lít dầu diesel, có tổng giá trị là 988.000 đồng và khoảng 10 giờ 20 phút ngày 29/7/2021, Nguyễn Duy H và Nguyễn Văn T trộm cắp các tài sản gồm: 01 bộ cửa xếp sắt trị giá 1.100.000 đồng; 01 cửa sắt trị giá 700.000 đồng; 01 cửa sắt trị giá 450.000 đồng; 01 bàn sắt trị giá 400.000 đồng; 03 thanh sắt hình trụ trị giá 30.000 đồng; 01 cuộn sắt 06 trị giá 300.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt ngày 29/7/2021 là 2.980.000 đồng. Tổng tài sản 02 lần Nguyễn Duy H chiếm đoạt trị giá là 2.588.000 đồng. Tổng tài sản Nguyễn Duy H và Nguyễn Văn T chiếm đoạt trị giá là 2.980.000 đồng.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Duy H và Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bởi lẽ:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân - Một khách thể mà Bộ luật hình sự đã quy định và bảo vệ. Với động cơ tư lợi, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng không do bản thân lao động chính đáng mà có, các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc bảo vệ tài sản của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Tổng tài sản bị chiếm đoạt có trị giá là 5.568.000 đồng (Trong đó H chiếm đoạt tài sản trị giá 5.568.000 đồng, T chiếm đoạt tài sản trị giá 2.980.000 đồng). Hành vi của các bị cáo đã gây thiệt hại về tài sản cho bị hại đồng thời làm mất trật tự, trị an trên địa bàn. Các bị cáo thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý, mặc dù đã nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội. Với hành vi của mình, các bị cáo phải chịu một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Để hình phạt đó không chỉ là sự trừng trị của pháp luật đối với người phạm tội mà còn là bài học để dăn đe, giáo dục chung trong cộng đồng.
Vụ án có nhiều người tham gia, tuy chỉ là đồng phạm giản đơn, song có người chủ mưu, người thực hành tích cực, có sự hưởng ứng của số đông nên đã làm tăng thêm ý chí, sự quyết tâm của các bị cáo trong vụ án.
Xét về vị trí, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:
Đối với Nguyễn Duy H: Bị cáo một mình thực hiện 02 hành vi và một lần là người chủ mưu, đề xuất cùng với T trộm cắp tài sản. Bị cáo phải chịu trách nhiệm với toàn bộ hậu quả xảy ra với thiệt hại của bị hại là 5.568.000 đồng. Bị cáo đã trực tiếp lấy tài sản và mang đi tiêu thụ. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và đồng phạm. Do vây bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người có nhân thân xấu: Tại Bản án số 23/2020/HS-ST ngày 05/5/2020, TAND TP. Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt H 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", bị cáo đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự.
Đối với Nguyễn Văn T: Sau khi được bị cáo H khởi xướng, bị cáo đã hưởng ứng ngay và tham gia trộm cắp với H một lần với tài sản trị giá 2.980.000đồng. Bị cáo là người thực hành tích cực, đã cùng bị cáo H trực tiếp lấy tài sản và mang đi tiêu thụ. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự gì.
Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo cải tạo dưới sự quản lý nghiêm của Nhà nước giúp các bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt, có tích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Một số tài sản bị trộm cắp, anh H và chị S đã nhận lại đến nay không có yêu cầu gì khác. Đối với một số tài sản không thu hồi được, anh H và chị S yêu cầu H và T phải bồi thường bằng tiền, cụ thể H phải bồi thường 2.588.000 đồng, H và T phải liên đới bồi thường 300.000 đồng. Yêu cầu của anh H và chị S là có căn cứ do vậy cần buộc các bị cáo H, T phải bồi thường số tiền nêu trên. Anh Trần Đức C và chị Bùi Thị C không yêu cầu H và T trả lại số tiền đã bỏ ra mua tài sản của các bị cáo. Xét việc không yêu cầu này của anh C và chị C là tự nguyện nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Đối với các đối tượng mua: 04 cây sắt 18, 03 can nhựa chứa 60 lít dầu diesel; 01 cuộn sắt 06, chưa xác định được nhân thân, lý lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với anh Trần Đức C và chị Bùi Thị C mua tài sản của H và T, đều không biết tài sản là do phạm tội mà có, nên không xem xét xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô Nguyễn Duy H sử dụng để đi trộm cắp tài sản, H khai mượn của một người bạn mới quen, không rõ nhân thân, lý lịch, không nhớ đặc điểm, biển số xe, H đã trả lại xe và không thu giữ được nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Các bị cáo H, T bị kết án và phải bồi thường thiệt hại nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy H và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 25/8/2021.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 25/8/2021.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 288, 357, 584, 585, 587 và 589 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự. Buộc Nguyễn Duy H phải bồi thường cho anh Vũ Quang H và chị Đỗ Thị S cùng trú tại: KDC số 2 phường P, TP. C, tỉnh Hải Dương số tiền 2.588.000đồng. Buộc Nguyễn Duy H và Nguyễn Văn T phải liên đới bồi thường cho anh Vũ Quang H và chị Đỗ Thị S số tiền 300.000đồng, phân chia: H 150.000đồng, T 150.000đồng.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày anh H và chị S có đơn yêu cầu thi hành án, nếu các bị cáo H, T không chịu thi hành khoản tiền bồi thường nêu trên thì các bị cáo còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Duy H và Nguyễn Văn T mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Báo các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi liên quan; - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND thành phố Chí Linh; - Công an thành phố Chí Linh; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh; - Chi cục THADS TP. Chí Linh; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Văn Quyết |