vanban.org

Bản án 108/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/02/2021 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRAN VAN H - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2021/HS-ST
Ngày: 14-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như H.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Hữu Q;

2. Bà Hồ Thị Lệ Th.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy L - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 12 năm 2021 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2021/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2021/QĐXXST-HS ngày 15/11/2021 đối với bị cáo:

Trần Văn H, sinh năm 1995 tại Phú Yên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố K, phường X, thị xã S, tỉnh P; nơi cư trú: 24 đường số J, khu phố S, phường P, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; họ và tên cha: Trần H, sinh năm 1974; họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm: 1974; bị cáo có 02 người em (lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2001); vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/02/2021; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Bà Đoàn Thị Như Q, sinh năm 1981; địa chỉ: F15-09 Chung cư A, Đường X, phường P, Quận M, Tp. HCM (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lý Diệu H2, sinh năm 1987; địa chỉ: 158/27 Đường B, Phường O, Quận D, Tp. HCM (có mặt)

- Công ty Cổ phần Kinh doanh X tại Thành phố Hồ Chí Minh – địa điểm kinh doanh số 28; trụ sở: 158 Đường V, phường NB, Quận S, Tp. HCM

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1993; là đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 01/7/2021) (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 17/02/2021, Trần Văn H điều khiển xe máy hiệu Yamaha Nouve, biển số 54Z3-4139 lưu thông đến trước nhà số 33 đường số X, phường P, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh, thấy bà Đoàn Thị Như Q đi bộ trên tay cầm 01 túi xách màu đen, nên nảy sinh ý định cướp giật. H điều khiển xe áp sát chị Q, dùng tay trái giật túi xách chị Q đang cầm rồi tăng ga tẩu thoát. Bị giật tài sản, chị Q chạy theo tri hô cướp cướp. Lúc này, anh Lê Quang T2 là lực lượng bảo vệ Phú mỹ H đang tuần tra, nghe tri hô nên đuổi theo H, đồng thời dùng bộ đàm thông báo các chốt chặn. Khi H chạy đến giao lộ đường Lvà K, Quận M, thì bị lực lượng bảo vệ Phú Mỹ H đuổi kịp bắt cùng vật chứng 01 túi xách màu đen, bên trong có 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu vàng, ốp lưng màu đen và một số đồ dùng cá nhân, giao cho Công an phường Tân Phong, Quận 7 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan giám sát Công an Quận 7, Trần Văn H khai nhận toàn bộ hành động vì phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus 32Gb màu trắng, ốp lưng màu đen, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho bà Đoàn Thị Như Q.

Kết luận định giá tài sản số 306/KL-HĐĐGTTHS ngày 04/8/2021, của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 7, kết luận: 01 cái điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus 32Gb màu trắng, có giá trị là 2.100.000 đồng.

Thu giữ của H:

- 01 xe máy hiệu Yamaha Nouve, biển số: 54Z3-4139, số khung Y-117864, số máy 5P11-117864, qua xác minh xe do ông Lý Diệu H2 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 31/7/2020, ông H2 bán xe này lại cho Trần Văn H, nhưng hai bên chưa làm thủ tục sang tên, nhưng có làm hợp đồng ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền số 011394, được chứng thực tại Văn phòng công chứng Bến Nghé ngày 31/7/2020). Ngày 08/01/2021 H mang cầm cố bản chính Giấy đăng ký mô tô, xe máy đối với chiếc xe này tại tiệm cầm đồ X với 3.000.000 đồng, tiệm cầm đồ yêu cầu bị cáo trả số tiền 4.446.828 đồng.

Ngày17/02/2021, H sử dụng xe làm phương tiện phạm tội.

- 01 điện thoại Iphone 6plus, màu vàng đồng.

Về trách nhiệm dân sự:

- Người bị hại là bà Đoàn Thị Như Q đã nhận lại điện thoại, túi xách và các giấy tờ cá nhân, không có yêu cầu gì thêm.

- Công ty Cổ phần Kinh doanh X tại Thành phố Hồ Chí Minh – địa điểm kinh doanh số 28 yêu cầu bị cáo trả số tiền cầm cố bản chính Giấy đăng ký mô tô, xe máy đối với chiếc xe gắn máy Yamaha Nouve, biển số: 54Z3-4139, là vật chứng đang thu giữ là 4.446.828 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 110/CT-VKSQ7 ngày 14/9/2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo Điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Điểm d Khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù giam

Xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus 32Gb màu trắng, ốp lưng màu đen, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho bà Đoàn Thị Như Q, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét;

Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 6plus, màu vàng đồng;

Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe máy hiệu Yamaha Nouve, biển số: 54Z3-4139, số khung Y-117864, số máy 5P11-117864.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Công ty Cổ phần Kinh doanh X tại Thành phố Hồ Chí Minh – địa điểm kinh doanh số 28 yêu cầu bị cáo trả số tiền cầm cố bản chính đăng ký xe đối với chiếc xe gắn máy Yamaha Nouve, biển số: 54Z3-4139, là vật chứng đang thu giữ là 4.446.828 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý trả, nên đề nghị buộc bị cáo trả cho Công ty Cổ phần Kinh doanh X tại Thành phố Hồ Chí Minh – địa điểm kinh doanh số 28.

Bị cáo khai báo về hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 7, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, căn cứ kết luận định giá tài sản số 306/KL-HĐĐGTTHS ngày 04/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 7 có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã thực hiện thực hiện hành vi sử dụng xe máy, là thủ đoạn nguy hiểm, áp sát bất ngờ chiếm đoạt tài sản là túi xách của bà Đoàn Thị Như Q, bên trong có 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu vàng, ốp lưng màu đen và một số đồ dùng cá nhân, rồi nhanh chóng tẩu thoát, tài sản bị chiếm đoạt có tổng giá trị 2.100.000 đồng. Hành vi của bị cáo cấu thành tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm vì đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của công dân, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại và những người khác đang lưu thông trên đường; ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt thu hồi trả cho người bị hại, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, do vậy Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định Điểm h, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus 32Gb màu trắng, ốp lưng màu đen, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho bà Đoàn Thị Như Q, nên Hội đồng xét xử không xét.

- 01 điện thoại hiệu Iphone 6plus, màu vàng đồng, của bị cáo, không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo.

- 01 xe máy hiệu Yamaha Nouve, biển số: 54Z3-4139, số khung Y-117864, số máy 5P11-117864, qua xác minh xe do ông Lý Diệu H2 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 31/7/2020, ông H2 bán xe này lại cho Trần Văn H, nhưng hai bên chưa làm thủ tục sang tên, nhưng có làm hợp đồng ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền số 011394, được chứng thực tại Văn phòng công chứng N ngày 31/7/2020). Ngày17/02/2021, bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, nên, tịch thu sung công quỹ nhà nước

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm, nên, Hội đồng xét xử không xét.

Công ty Cổ phần Kinh doanh X tại Thành phố Hồ Chí Minh – địa điểm kinh doanh số 28, là chủ sở hữu tiệm cầm cố tại tiệm cầm đồ X yêu cầu bị cáo trả số tiền cầm cố bản chính Giấy đăng ký xe đối với chiếc xe gắn máy Yamaha Nouve, biển số: 54Z3-4139, là vật chứng đang thu giữ là 4.446.828 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý trả, nên buộc bị cáo trả số tiền này cho Công ty Cổ phần Kinh doanh X tại Thành phố Hồ Chí Minh – địa điểm kinh doanh số 28.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Căn cứ vào Điểm d Khoản 2 Điều 171; Điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 17/02/2021

2. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại hiệu Iphone 6plus, màu vàng đồng (cũ, đã qua sử dụng).

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, biển số: 54Z3-4139, số khung Y-117864, số máy 5P11-117864, màu Xanh Vàng Bạc, số loại 5P11, loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm3, đăng ký lần đầu 23/11/2009 (đính kèm bản chính giấy đăng ký mô tô, xe máy số 035102 do Công an Quận 4 cấp ngày 23/11/2009 cho ông Lý Diệu H2).

(Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 124 ngày 01/9/2021 và số 25 ngày 06/12/2021).

3. Căn cứ vào Điều 274, Khoản 1 Điều 275 và Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015: Buộc bị cáo trả cho Công ty Cổ phần Kinh doanh X tại Thành phố Hồ Chí Minh – địa điểm kinh doanh số 28 số tiền 4.446.828 (bốn triệu, bốn trăm bốn mươi sáu ngàn, tám trăm hai mươi tám) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty Cổ phần Kinh doanh X tại Thành phố Hồ Chí Minh – địa điểm kinh doanh số 28 cho đến khi thi hành án xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo pH nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng và 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ