vanban.org

Bản án 108/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 09/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Thanh T 01 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng (tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 09/7/2021). Giao bị cáo Trần Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã Lo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Thanh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2021/HS-ST
Ngày: 09-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thanh T Hương

2. Bà Nguyễn Minh Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Mỵ– Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hải Đạt– Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2021/HSST, ngày 02 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 437/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo:

TRẦN THANH T, sinh năm 2002 tại Hậu Giang; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký thường trú: ấp Long B, xã Long P, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; Chổ ở hiện nay: Trần Hoàng N, phường Hưng L, quận N, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Thanh S, sinh năm 1980 (s) và bà Nguyễn Thị Thanh Thanh T1, sinh năm 1978 (s); Em ruột: 02 người (lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010); Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại: Chị Trần Trương Huỳnh N, sinh năm 2002. Đăng ký thường trú: ấp Đông M, xã Đông Th, huyện C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh T và Trần Trương Huỳnh N là bạn quen biết nhau trong thời gian luyện thi tại hẻm 123 Trần Hưng Đạo, phường An Phú, quận Ninh Kiều, thành phồ Cần Thơ. Vào khoảng 21 giờ ngày 27/01/2021, sau khi luyện thi xong thì Thanh T nhờ N chở về phòng trọ. N điều khiển xe mô tô chở Thanh T đi từ đường Trần Hưng Đạo về đường 30/4. Khi đến trước số 776 đường 30/4, phường Hưng Lợi thì N cảm thấy Thanh T ngồi phía sau có biểu hiện bất thường nên dừng xe lại rồi kiểm tra ba lô đeo phía sau lưng, phát hiện điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 8 bị mất, N yêu cầu kiểm tra ba lô và trong người Thanh T thì Thanh T không đồng ý nên N tri hô lên, Thanh T lập tức bỏ chạy đến thùng rác ven đường gần đó ném điện thoại vừa trộm được. Lúc này, Công an phường Hưng Lợi đến thu giữ điện thoại trong thùng rác và đưa Thanh T về làm việc.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 8 có gắn ốp lưng màu nâu; 01 áo thun màu trắng, phía trước có chữ California; 01 quần Jeans màu kem;

Kết luận định giá tài sản số: 145/KL-HĐĐG ngày 02/02/2021 và 450/KL-HĐĐG ngày 06/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận Ninh Kiều kết luận: 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy Note 8 có giá trị còn lại là 6.500.000 đồng; 01 ốp lưng điện thoại di động, màu nâu bằng nhựa, giá trị còn lại là 50.000 đồng (Bút lục 20, 21).

Trước Cơ quan điều tra, Trần Thanh T thừa nhận sau khi ngồi sau xe của N, phát hiện ba lô N đeo phía sau không có kéo khóa nên Thanh T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của N bán lấy tiền đóng học phí và Thanh T lén lút lấy trộm được điện thoại di động của N rồi giấu trong túi quần, khi N phát hiện và tri hô lên thì Thanh T hoảng sợ bỏ chạy đến thùng rác ven đường ném điện thoại vừa trộm cắp được để phi tang (bút lục 38-45).

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Ninh Kiều đã trả 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 8, model SM-N950N; 01 ốp lưng điện thoại di động, màu nâu bằng nhựa là tài sản của Trần Trương Huỳnh N, N đã nhận lại tài sản xong và không yêu cầu gì thêm (bút lục: 22, 23).

Cáo trạng số 113/CT-VKSNK ngày 27 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đã truy tố Trần Thanh T Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đối với bị cáo Trần Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình năm 2015. Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa thấy rằng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hành vi phạm tội của bị cáo là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ những căn cứ nêu trên đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 để tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội trộm cắp tài sản; áp dụng điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Thanh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Về tang vật, vật chứng của vụ án đề nghị xử lý theo quy định.

- Người bị hại chị Trần Trương Huỳnh N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Thanh T, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

- Bị cáo Trần Thanh T thống nhất với nội dung cáo trạng truy tố, thống nhất mức đề nghị hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo đã rất ăn năn hối hận đối với hành vi phạm tội đã thực hiện. Mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Ninh Kiều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về tội danh của bị cáo:

Hội đồng xét xử nhận thấy, lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, đủ cơ sở kết luận: Ngày 27/01/2021 Trần Thanh T đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 8 có gắn ốp lưng màu nâu của chị Trần Trương Huỳnh N với giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 6.550.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bào vệ. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Xét thấy, trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cãi đối với hành vi phạm tội đã thực hiện, bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân chưa từng có tiền án, tiền sự; người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Trần Thanh T là công dân Việt Nam, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng vì lòng tham, muốn nhanh chóng có tiền tiêu sài để phục vụ cho những nhu cầu cá nhân, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tác động tiêu cực đến trật tự trị an của địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Xét bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng nhận thức nhất định nên có khả năng tự cải tạo, bị cáo hiện đang là sinh viên của trường Đại học Cần Thơ nên việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết nhưng nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Nên, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:

Xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Ninh Kiều đã trả 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 8, model SM-N950N; 01 ốp lưng điện thoại di động, màu nâu bằng nhựa là tài sản của người bị hại Trần Trương Huỳnh N, chị N đã nhận lại tài sản xong và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với: 01 bộ quần áo của Trần Thanh T do không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 (một) đĩa DVD trích xuất camera liên quan đến vụ án nên cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Xét đề nghị của kiểm sát viên về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và mức đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Thanh T 01 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng (tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 09/7/2021).

Giao bị cáo Trần Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã Long Phú, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Thanh T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Ninh Kiều đã trả 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 8, model SM-N950N; 01 ốp lưng điện thoại di động, màu nâu bằng nhựa là tài sản của người bị hại Trần Trương Huỳnh N;

- Tịch thu, tiêu hủy 01 áo thun màu trắng, phía trước có chữ California; 01 quần Jeans màu kem của bị cáo Trần Thanh T.

- Lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD trích xuất camera liên quan đến vụ án.

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Thanh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tòa tuyên án; kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ