vanban.org

Bản án 108/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 13/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T(Lượm Lé) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

[1] Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T(Lượm Lé) 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2020. [2] Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Tài phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T(Lượm Lé) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 108/2020/HS-ST
Ngày : 13 - 11 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2020/HS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Thanh T(Lượm Lé), sinh ngày 19/3/1989 tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: số 139/3 khóm Đông An 2, phường Mỹ Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Trần Thanh Lâm (chết) và bà Hồ Thị Tuyết Hoa (chết); có 02 anh em, bị cáo là người thứ nhất; từ năm 2006 đến năm 2007 chung sống như vợ chồng với Võ Thúy Ái Vy, sinh năm: 1989; từ năm 2009 đến năm 2013 chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Hồng Nhung, sinh năm: 1995; có 02 người con, lớn sinh năm: 2007, nhỏ sinh năm 2011.

- Nhân thân: Ngày 04/5/2006, bị UBND phường Mỹ Xuyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại phường, thời hạn 06 tháng; Ngày 28/02/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 16/6/2009 chấp hành xong bản án.

- Tiền án: Ngày 12/4/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 11/10/2019 chấp hành xong hình phạt tù.

- Tiền sự: Không;

- Bị tạm giam ngày 13/10/2020 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Lư Ngọc H, sinh năm: 1968; Địa chỉ: ấp Vĩnh Lộc, xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang; Tạm trú: số 918/9 đường Phạm Cự Lượng, khóm Đông Thịnh 4, phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Trần Thị Út N(Út Mười), sinh năm: 1982; Địa chỉ: số 139/3, tổ 37, khóm Đông An 2, phường Mỹ Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Người làm chứng:

+ Anh Khưu H1(vắng mặt);

+ Anh Nguyễn Đăng Kh(vắng mặt);

+ Anh Ái Trung T2(vắng mặt);

+ Ông Nguyễn Thành Duyên (vắng mặt);

+ Bà Thái Thị C(vắng mặt).

NỘI UNG V ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh Tđã bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa được xóa án tích. Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 13 tháng 10 năm 2020, Tài điều khiển xe mô tô biển số 67B1-767.05 đi qua cửa hàng mua bán phụ tùng xe mô tô, xe gắn máy Lư Hoàng của anh Lư Ngọc H ở số 918/9, đường Phạm Cự Lượng, khóm Đông Thịnh 4, phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, thấy không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Thực hiện ý định này, Tài dừng xe vào trong lấy trộm 01 bình ắc quy nước, nhãn hiệu Đồng Nai Pinaco, màu xanh trắng, số bình 34151180222, model N100, dung lượng bình 100Ah-12V, đã qua sử dụng, khiêng ra để lên xe mô tô thì bị anh Khưu H1phát hiện, truy hô cùng các anh Nguyễn Đăng Khang, Ái Trung Tính bắt giữ Tài giao cho Công an phường Mỹ Phước lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang.

Hành vi trên của Tài bị camera của cửa hàng Lư Hoàng ghi lại và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên đã thu giữ đoạn camera này.

Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 01 bình ắc quy nước, nhãn hiệu Đồng Nai Pinaco, màu xanh trắng, số bình 34151180222, model N100, dung lượng bình 100Ah-12V, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu: Redmi 6A, số IMEI: 863197045144664, màu đen, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô biển số 67B1-767.05, nhãn hiệu WAVE 110, màu xanh, số khung RRKWCH2UM5X 016445, số máy VTTJL1P52FMH – 1016445, đã qua sử dụng; 01 ống kim tiêm bằng nhựa, màu trắng.

Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 198/KL.HĐ ngày 13 tháng 10 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, xác định: 01 bình ắc quy nước, nhãn hiệu Đồng Nai Pinaco, màu xanh trắng, số bình 34151180222, model N100, dung lượng bình 100Ah-12V, đã qua sử dụng, trị giá 850.000 đồng

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 06/QĐ.VKS ngày 04 tháng 11 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Trần Thanh Tvề tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày nội dung luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo Trần Thanh Tài. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thanh T(Lượm Lé) từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Lư Ngọc H đã nhận lại được tài sản nên không đề nghị xem xét, giải quyết;

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, màu đen, đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; Trả lại cho bà Trần Thị Út N01 xe mô tô biển số 67B1-767.05, nhãn hiệu WAVE 110, màu xanh, số khung RRKWCH2UM5X 016445, số máy VTTJL1P52FMH – 1 016445, đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội; Tịch thu tiêu hủy 01 ống kim tiêm bằng nhựa, màu trắng do không có giá trị sử dụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Út Ntrình bày: bà là chủ sở hữu xe mô tô biển số 67B1-767.05; vào ngày 13/10/2020 bà cho Tài mượn xe mô tô trên để đi chợ, bà hoàn toàn không biết bị cáo Tài sử dụng xe mô tô trên vào việc trộm cắp tài sản. Nay bà yêu cầu được nhận lại xe mô tô biển số 67B1-767.05 để tiếp tục quản lý, sử dụng.

Bị cáo Trần Thanh Tkhai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Quyết định truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.

Trong quá trình điều tra, bị hại trình bày: Tài sản bị mất trộm là 01 bình ắc quy nước, nhãn hiệu Đồng Nai Pinaco, màu xanh trắng, model N100, dung lượng bình 100Ah-12V như nội dung vụ án đã nêu. Bị hại đã nhận lại được tài sản nên không yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về tố tụng: Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, những người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra và thể hiện trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây cản trở cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh Tkhai nhận hành vi phạm tội như nội dung quyết định truy tố mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ trên, đã có đủ cơ sở xác định, mặc dù bị cáo Trần Thanh Tđã có một tiền án về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa được xóa án tích nay lại lợi dụng sự sơ hở của bị hại ông Lư Ngọc H trong việc quản lý tài sản, thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 bình ắc quy nước, nhãn hiệu Đồng Nai Pinaco, màu xanh trắng, model N100, dung lượng bình 100Ah-12V, đã qua sử dụng với giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 850.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác đều bị xử lý nghiêm khắc. Bị cáo là người khỏe mạnh, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật đang ở độ tuổi lao động, lẽ ra bị cáo phải tích cực lao động để tạo thu nhập tự nuôi sống bản thân và phụ giúp cho gia đình nhưng ngược lại với bản tính tham lam, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản là 01 bình ắc quy trị giá 850.000 đồng của bị hại Lư Ngọc H vào ban ngày khi có nhiều người thường xuyên qua lại điều này cho thấy sự liều lĩnh của bị cáo. Đồng thời, bị cáo có nhân thân xấu và đã từng có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” đó là vào ngày 12/4/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù, đến ngày 11/10/2019 chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích nay bị cáo lại tiếp tục vi phạm thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét, giải quyết.

Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ một số vật chứng, cần phân hóa xử lý như sau:

- Trả lại cho bị cáo Trần Thanh T01 điện thoaị di động, nhãn hiệu: Redmi 6A, số IMEI: 863197045144664, màu đen, đã qua sử dụng, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo;

- Tịch thu tiêu hủy 01 ống kim tiêm bằng nhựa, màu trắng do không có giá trị sử dụng;

- Trả lại 01 xe mô tô biển số 67B1-767.05, nhãn hiệu WAVE 110, màu xanh, số khung RRKWCH2UM5X 016445, số máy VTTJL1P52FMH – 1016445 đã qua sử dụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Út Ndo bà không biết bị cáo sử dụng xe mô tô trên vào việc thực hiện phạm tội.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/11/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T(Lượm Lé) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 456, Điều 457, Điều 463, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

[1] Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T(Lượm Lé) 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2020.

[2] Về vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo Trần Thanh T01 (một) điện thoaị di động, nhãn hiệu: Redmi 6A, số IMEI: 863197045144664, màu đen, đã qua sử dụng;

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ống kim tiêm bằng nhựa, màu trắng;

- Trả lại 01 (một) xe mô tô biển số 67B1-767.05, nhãn hiệu WAVE 110, màu xanh, số khung: RRKWCH2UM5X 016445, số máy: VTTJL1P52FMH – 1016445, đã qua sử dụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Út Nhỏ.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/11/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).

[3] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ