vanban.org

Bản án 108/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Loan Th được ly hôn với ông Phạm Quốc D. Về con chung: Giao cho bà Ngô Thị Loan Th được trực tiếp nuôi cháu Phạm Quốc H- sinh ngày 15/9/2012; Giao ông Phạm Quốc D được trực tiếp nuôi cháu Phạm Quốc L- sinh ngày 03/10/2014; Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Loan Th, sinh năm: 1992 (Xin vắng mặt); Địa chỉ: Khu phố B, phường N, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang. Tạm trú: Ấp CL,…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GÒ CÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 14 - 4 - 2020
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂNTHỊ XÃ GÒ CÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Tùng.

2. Ông Bành Quốc Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dƣơng Hồng Tâm- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thanh- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 357/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Loan Th, sinh năm: 1992 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Khu phố B, phường N, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.

Tạm trú: Ấp CL, xã BĐ, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Phạm Quốc D, sinh năm: 1993 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Khu phố B, phường N, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn xin ly hôn ngày 01/10/2019, bản tự khai ngày 05/12/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ngô Thị Loan Th trình bày: Bà và ông Phạm Quốc D sống với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do ông D nghiện ma túy nhiều lần đi cai nghiện nhưng vẫn không thay đổi. Nhận thấy tình cảm không còn, sống với nhau không hạnh phúc.

Về tình cảm: Bà Ngô Thị Loan Th xin được ly hôn với ông Phạm Quốc D.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Quốc H- sinh ngày 15/9/2012 và Phạm Quốc L, sinh ngày 03/10/2014. Khi ly hôn bà Th yêu cầu được nuôi cháu H, giao cháu L cho anh D trực tiếp nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Bị đơn ông Phạm Quốc D mặc dù được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ nhưng không nộp cho Tòa án Bản tự khai cũng như văn bản ghi ý kiến của mình. Đồng thời Tòa án đã tiến hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Phạm Quốc D nhưng do ông D vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt ông D và không hòa giải vụ án được.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu trình tự, thủ tục tố tụng:

Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Về nội dung: Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Ngô Thị Loan Th là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Th.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét yêu cầu của nguyên đơn thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Ngô Thị Loan Th có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Quốc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L, ông D.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về hôn nhân: Bà Th và ông D tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2015. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo bà Th cho rằng vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn là do ông D nghiện ma túy đã đưa đi cai nghiện rất nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi. Bà Th thấy không thể tiếp tục chung sống với ông D. Bà Th xin được ly hôn.

Phía ông D đã được triệu tập hợp lệ để tiến hành hòa giải nhằm hàn gắn mâu thuẫn nhưng ông D vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy ông D không có thiện chí hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng. Mâu thuẫn giữa bà Th và ông D đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Th được ly hôn với ông D theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Quốc H- sinh ngày 15/9/2012 và Phạm Quốc L, sinh ngày 03/10/2014. Khi ly hôn bà Th yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H, giao cháu L cho anh D trực tiếp nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét về điều kiện chăm sóc cháu H đang sống chung với bà Th, cháu L đang sống chung với ông D. Tại biên bản xác minh ngày 14/01/2020 chính quyền địa phương xác định bà Th có đủ điều kiện về kinh tế và chăm sóc con tốt, cháu L từ nhỏ sống chung với gia đình bên nội chăm sóc cũng rất tốt. Để ổn định tâm sinh lý và quá trình sinh hoạt của các cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Th, giao bà Th được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, giao ông D được trực tiếp nuôi cháu L. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4]Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GC là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Loan Th được ly hôn với ông Phạm Quốc D.

- Về con chung: Giao cho bà Ngô Thị Loan Th được trực tiếp nuôi cháu Phạm Quốc H- sinh ngày 15/9/2012; Giao ông Phạm Quốc D được trực tiếp nuôi cháu Phạm Quốc L- sinh ngày 03/10/2014; Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.

2. Về án phí: Bà Ngô Thị Loan Th phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bà Th đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 43476 ngày 04/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã GC. Khấu trừ xem như đã nộp xong án phí sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Án được tuyên cùng ngày.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ