vanban.org

Bản án 108/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh C phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;

Xử phạt bị cáo Lê Mạnh C 02 (hai) năm tù. Thời hạ n tù đượ c tí nh kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/12/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — ""Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh C phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2019/HS-ST
Ngày: 19 - 7 -2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ngọc Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Tiêu Thị Kim Liên

Bà Châu Thị Lệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2019 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Mạnh C, sinh năm 1979, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: đường H, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh;Tạm trú: số đường K, khu phố M, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị H; Có vợ tên Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1987 và 01 con sinh năm 2005; tiền sự: không; tiền án: Ngày 29/11/2013, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 321/2013/HSST). Ngày 20/9/2016, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 01 năm 3 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 259/2016/HSST). Nhân thân: Ngày 20/6/1996 Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 130/1996/HSST). Ngày 27/10/1997 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 6 năm tù về tội “cướp tài sản” và 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”tổng hợp hình phạt là 07 năm tù; (Bản án số 2458/1997/HSST) ; tạm giữ, tạm giam ngày: 11/12/2018; (Có mặt).

Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993; Trú tại: đường O, Phường P, quận Gò Vấp, TP. HCM; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với mục đích đi tìm tài sản để trộm cắp, khoảng 21 giờ ngày 10/12/2018, Lê Mạnh C mang theo 01 bộ đoản dùng bẻ khóa xe, một mình đi bộ từ Quận 12 đến quận Gò Vấp tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến nhà tại địa chỉ đường O, Phường P, quận Gò Vấp thì C phát hiện trước nhà có dựng 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 37E1-246.80 do chị Nguyễn Thị H đứng tên chủ quyền, quan sát thấy không có người trông coi xe, C đi tới dùng đoản bẻ gãy ổ khóa rồi lấy xe nổ máy tẩu thoát. Khoảng 11 giờ ngày 11/12/2018, khi C đang sử dụng xe máy trộm cắp được đi trên đường Tô Ký, Quận 12 thì bị Công an Quận 12 kiểm tra, C khai xe do C trộm cắp được tại quận Gò Vấp ngày 10/12/2018. Công an Quận 12 chuyển toàn bộ hồ sơ, người và vật chứng đến Công an Quận Gò Vấp.

Vật chứng:

- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 37E1-246.80.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 382/KL ngày 14/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, kết luận: ước tính trị giá chiếc xe máy Yamaha Sirius biển số 37E1-246.80 đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 10/12/2018 là 10.767.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả xe cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị H.

- 01 ĐTDĐ Nokia;

- 01 đầu đoản tự chế dài khoảng 08cm và 01 thân đoản bằng kim loại hình chữ L dài khoảng 12cm.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Mạnh C khai đã nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Chị H đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì khác.

Tại bản cáo trạng số 79/CTr-VKS, ngày 09/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Lê Mạnh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017;

- Xử phạt bị cáo Lê Mạnh C từ 02 năm đến 03 năm tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 đầu đoản tự chế dài khoảng 08cm và 01 thân đoản bằng kim loại hình chữ L dài khoảng 12cm.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Lê Mạnh C đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Lê Mạnh C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.

Lợi dụng sự sơ hở của bị hại, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân của mình mà không phải thông qua lao động chân chính bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Xét nhân thân bị cáo đã có 02 tiền án về hành vi “trộm cắp tài sản” chưa được xóa án, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức bị cáo rất xem thường pháp luật và lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay bị hại chị Nguyễn Thị H đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, hiện không thắc mắc hay khiếu nại gì nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 37E1-246.80 qua xác minh là của chị Nguyễn Thị H, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H. Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại tài sản đó là đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia số Imel 2: 353413098196247 là tư vật của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 đầu đoản tự chế dài khoảng 08cm và 01 thân đoản bằng kim loại hình chữ L dài khoảng 12cm là dụng cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy

- Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh C phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Mạnh C 02 (hai) năm tù. Thời hạ n tù đượ c tí nh kể từ

ngày tạm giữ, tạm giam 11/12/2018.

Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017; khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Trả lại cho bị cáo Lê Mạnh C 01 điện thoại Nokia số Imel 2: 353413098196247.

Tịch thu và tiêu hủy 01 đầu đoản tự chế dài khoảng 08cm và 01 thân đoản bằng kim loại hình chữ L dài khoảng 12cm.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 40/PNK, ngày 08/3/2019 của Công an quận Gò Vấp).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ