- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức H - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2018/HS-ST Ngày 15-8-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quốc Bình.
2. Ông Vũ Duy Khương.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Ngần Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2018/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức H (tên gọi khác: không), sinh ngày 18 tháng 12 năm 1986 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Tiểu khu X, thị trấn H, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Đức H (đã chết) và bà Dương Thị M, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10 tháng 4 năm 2018, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 30 phút ngày 10/4/2018 tại khu vực bản Cang, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, Nguyễn Đức H bị tổ công tác Công an phường Tô Hiệu phối hợp với Công an phường Chiềng Sinh phát hiện, bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu xanh bên trong có 03 viên nén hình tròn đồng dạng màu hồng (H tự giác lấy trong túi áo ngực bên phải đang mặc ra giao nộp, H khai là hồng phiến cất giữ để sử dụng).
Quá trình điều tra, Nguyễn Đức H khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 10/4/2018, H đi bộ từ nơi làm thuê tại khu vực tổ 2, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La đến khu vực gần cổng Trường Đại học Tây Bắc thuộc khu vực tổ 2, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, H gặp và hỏi mua được của một người nam giới không quen biết 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 03 viên hồng phiến với giá 300.000,đ (ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, H giấu gói ma túy vào túi áo ngực bên phải đang mặc rồi đi bộ ra đường quốc lộ 6 đón xe buýt đi xuống khu vực phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La. Khi đi đến địa phận bản Cang, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, H xuống xe đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị Cơ quan công an phát bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng thu giữ.
Cùng ngày 10/4/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, xác định trọng lượng, lấy mẫu gử i giám định và niêm phong lại vật chứng, kết quả: 03 viên nén đồng dạng hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,26 gam. Lấy toàn bộ 0,26 gam làm mẫu gửi giám định chất ma túy, ký hiệu NH1.
Tại Kết luận giám định số 482 ngày 17/4/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu NH1 là ma túy; Loại Methamphetamine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,26 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,26 gam loại Methamphetamine”. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Về nguồn gốc 0,26 gam Methamphetamine bị thu giữ: Bị cáo Nguyễn Đức H khai nhâ ̣n đã mua của một người nam giới không quen biết vào ngày 10/4/2018 tại khu vực tổ 02, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma tuý bị thu giữ.
Do có hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số: 81/CT-VKSTP ngày 18/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bi ̣ cáo Nguyễn Đức H từ 12 đến 15 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) Chiếc phong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Nguyễn Đức H. SN: 1986. Tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 10/4/2018, tại bản Cang, phường Chiềng Sinh, TP Sơn La”, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong có 01 dấu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La và 06 chữ ký, 06 họ tên của thành phần tham gia niêm phong, kiểm tra niêm phong còn nguyên vẹn.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức H nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 10/4/2018, Nguyễn Đức H đã có hành vi cất giấu trái phép 0,26 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản Cang, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- Lời khai nhận tội của bị cáo.
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 18 giờ 50 phút ngày 10/4/2018 tại bản Cang, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Nguyễn Đức H cùng vật chứng thu giữ là 0,26 gam Methamphetamine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 482 ngày 17/4/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Lò Văn D, sinh năm 1983, trú tại: bản C, phường S, thành phố Sơn La , tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết quả điều tra.
Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội với tổng khối lượng 0,26 gam Methamphetamine, vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó, cần lên mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt vi phạm lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Nguyễn Đức H khai nhâ ̣n đã mua của một người nam giới không quen biết vào ngày 10/4/2018 tại khu vực tổ 02, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó buộc Nguyễn Đức H phải chịu trách nhiệm về số ma tuý bị thu giữ.
Vật chứng vụ án:
Đối với 0,26 (không phẩy hai mươi sáu) gam Methamphetamine đã sử dụng hết trong quá trình giám định; Vật chứng còn lại của vụ án: 01 (một) chiếc phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (một) mảnh nilon màu xanh là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về án phí: Do hành vi phạm tội của bị cáo nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 10/4/2018). Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) Chiếc phong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Nguyễn Đức H. SN: 1986. Tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 10/4/2018, tại bản Cang, phường Chiềng Sinh, TP Sơn La”, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong có 01 dấu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La và 06 chữ ký, 06 họ tên của thành phần tham gia niêm phong, kiểm tra niêm phong còn nguyên vẹn.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/7/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Đức H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/8/2018)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La (2); - THADS thành phố Sơn La; - Công an thành phố Sơn La; - THAPT (2); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Thị Phượng |