vanban.org

Bản án 108/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tranh chấp ly hôn của chị Vũ Thị Thu H. Xử cho chị H được ly hôn với anh Đào Hữu T.

Về con chung: Chị H được quyền nuôi dưỡng cháu Đào Vũ Tường V, sinh ngày 16/12/2011. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T được quyền đến thăm con không ai được ngăn cản, khi cần thiết các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung: Không xem xét… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H xin ly hôn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tranh chấp ly hôn của chị Vũ Thị Thu H. Xử cho chị H được ly hôn với anh Đào Hữu T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2017/HNGĐ-ST.
Ngày: 07/9/2017.
V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Hùng Minh Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Ba.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Doãn Thị Hằng – Thư ký tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2017, tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 335/2017/TLST-HNGĐ ngày 19/5/2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/8/2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Thu H, sinh năm: 1990.

Địa chỉ cư trú: xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Đào Hữu T, sinh năm: 1986.

Địa chỉ cư trú: khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở: Hiện đang chấp hành án tại phân trại 4, trại Giam X, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(chị H có mặt, anh T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 5 năm 2017 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Vũ Thị Thu H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị và anh T xây dựng gia đình vào năm 2011, có làm thủ tục đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai do cả hai đều tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không được hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn giữa Chị và anh T là do vợ chồng bất đồng quan đểm sống về lối sống, kinh tế trong gia đình chỉ do một mình chị gánh vác, vợ chồng thường xuyên cãi vã, anh T không lo làm ăn và có hành vi sử dụng ma túy, anh T bị xử phạt tù hiện đang chấp hành án tại trại giam X. Từ năm 2012, chị đã chuyển về sống cùng với cha mẹ chị đến nay.

Chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về con chung: có 01 cháu.

Đào Vũ Tường V, sinh ngày 16/12/2011.

Hiện nay cháu V chị là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, nếu ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V, chị nuôi con không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị H trình bày không có. Nợ chung: Chị H trình bày không có.

Tại biên bản ghi lời khai phạm nhân ngày 03/7/2017, bị đơn anh Đào Hữu T có ý kiến đề nghị đối với yêu cầu của nguyên đơn như sau:

Giữa anh và chị H xây dựng gia đình năm 2011, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, do cả hai đều tự nguyện.

Trong quá trình chung sống vợ, chồng phát sinh mâu thuẫn chỉ bắt đầu khi anh bị bắt ngày 19/6/2012 về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nay chị H yêu cầu ly hôn với anh, anh đồng ý không có thắc mắc gì.

Về con chung: có 01 cháu.

Đào Vũ Tường V, sinh ngày 16/12/2011.

Hiện nay cháu V chị H là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, nếu ly hôn anh để chị H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V, chị H không yêu cầu anh phải cấp dưỡng nuôi con, anh đồng ý không có ý kiến gì.

- Về tài sản chung: Anh T trình bày không có. Nợ chung anh T không trình bày có nợ chung.

Những nội dung các đương sự đã thống nhất, không thống nhất:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Thu H yêu cầu ly hôn anh Đào Hữu T. Anh T đồng ý ly hôn với chị H.

Về con chung: Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Đào Vũ Tường V, sinh ngày 16/12/2011, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T đồng ý theo yêu cầu chị H.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh T đều trình bày không có.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ được thực hiện đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được bảo đảm, các quyết định được tống đạt hợp lệ, phiên tòa được thực hiện dân chủ, bình đẳng. Người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, chấp hành tốt pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu tranh chấp ly hôn của chị Vũ Thị Thu H. Xử cho chị H được ly hôn với anh Đào Hữu T.

Con chung: Giao cháu Đào Vũ Tường V, sinh ngày 16/12/2011 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều trình bày không có, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền: Tranh chấp phát sinh giữa chị Vũ Thị Thu H và anh Đào Hữu T là tranh chấp ly hôn, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa công khai hôm nay anh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Về nội dung vụ án: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ hôn nhân:

Chị H và anh T xây dựng gia đình với nhau năm 2011, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 155, quyển số 01 ngày 25/8/2011 do cả hai đều tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp. Chị H yêu cầu ly hôn, chị xác định vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn đoàn tụ. Anh T cũng xác định trong quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, anh đồng ý ly hôn với chị H, nên ghi nhận.

. Về con chung: Có 01 cháu.

Đào Vũ Tường V, sinh ngày 16/12/2011. Hiện cháu V chị H là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, chị H có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng cháu V, hiện anh T đang chấp hành hình phạt tù trong trại giam, anh T cũng đồng ý để chị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu V. Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 09/8/2017, chính quyền địa phương nơi chị H đang sinh sống xác định hiện chị H đang nuôi dưỡng cháu V tốt. Xuất phát từ lợi ích về mọi mặt của cháu V nên cần giao cháu V cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng sẽ tốt hơn, do chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con, anh T cũng không có nguyện vọng cấp dưỡng nuôi con cho chị H, nên không buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con cho chị H.

. Về tài sản chung: Chị H và anh T đều trình bày không có tài sản chung, nên không xem xét.

. Nợ chung: Chị H và anh T đề trình bày không có, nên không xem xét.

. Về án phí: Chị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu tranh chấp ly hôn của chị Vũ Thị Thu H. Xử cho chị H được ly hôn với anh Đào Hữu T.

Về con chung: Chị H được quyền nuôi dưỡng cháu Đào Vũ Tường V, sinh ngày 16/12/2011. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T được quyền đến thăm con không ai được ngăn cản, khi cần thiết các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Không xem xét.

Nợ chung: Không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (ba trăm ngàn) theo các biên lai số 006370 ngày 16/5/2017 của Chi cụcThi hành án dân sự huyện Long Thành, chị H đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn chị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ