- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa ông K và bà N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trần Văn K
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1077/2022/HNGĐ-ST Ngày: 19-7-2022. V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Phước Trinh
2. Bà Phan Thị Xuân Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền- Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 476/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2021 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 262/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 290/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm: 1982; địa chỉ: 30 đường 419, tổ 4, ấp 6, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.(có mặt)
2. Bị đơn: Bà Võ Thị N, sinh năm: 1981; địa chỉ: 30 đường 419, tổ 4, ấp 6, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 08/4/2021 và bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn ông Trần Văn K trình bày: Ông và bà Võ Thị N tự nguyện sống chung vào năm 2017, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 60 ngày 29/7/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông sống thuận hòa, hạnh phúc, một thời gian sau thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, và về kinh tế, dẫn đến hai bên thường xuyên cãi vã, làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Ông xác định không thể hàn gắn quan hệ vợ chồng nên yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn với bà N.
Về nuôi con chung: Ông xác định ông và bà N có 01 con chung tên Trần Trung H, sinh ngày: 23/01/2018. Ông yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu bà N cấp dưỡng.
Về chia tài sản chung: Không có.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
Tại bản tự khai ngày 27/12/2021, bị đơn bà Võ Thị N trình bày: Bà xác định bà và ông K sống chung từ năm 2014, đến năm 2017 mới đăng ký kết hôn. Bà xác định giữa bà và ông K không có mâu thuẫn gì nên mong muốn được đoàn tụ, không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông K.
Về nuôi con chung: Bà xác định bà và ông K có 01 con chung tên Trần Trung H, sinh ngày: 23/01/2018. Trường hợp ly hôn, bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông K cấp dưỡng.
Về chia tài sản chung: Không có.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phát biểu:
I. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:
Tuân thủ các quy định về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án, về xác định tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục hòa giải, thủ tục cấp, tống đạt và đảm bảo thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 68, 177, 178, 179, 207, 211 và 220 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử và thư ký phiên toà: Đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
3. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
II. Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điển a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Bị đơn đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Căn cứ đơn xin ly hôn 08/4/2021, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là Ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn có nơi cư trú tại ấp 6, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi.
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Ông Trần Văn K và bà Võ Thị N tự nguyện sống chung, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 60 ngày 29/7/2017, nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo đơn xin ly hôn và tại phiên tòa, Nguyên đơn cho rằng trong quá trình sống chung cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn không giải quyết được, cụ thể là do bất đồng quan điểm sống và mâu thuẫn về vấn đề tiền bạc. Trước khi kết hôn với ông, bà N đã có 01 cuộc hôn nhân và đã có con riêng, sau khi kết hôn với ông, bà N vẫn thường xuyên chăm sóc gia đình cũ bỏ mặc ông và con. Và cả hai bên vẫn không hòa giải được. Tòa án nhận thấy tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, thể hiện bị đơn không mong muốn đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng, nguyên đơn thể hiện ý chí cương quyết ly hôn, không có cơ sở để hòa giải đoàn tụ theo quy định. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Trần Văn K và bà Võ Thị N là có xảy ra, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và không có khả năng đoàn tụ nên chấp nhận yêu cầu về việc ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở.
Về nuôi con chung: Nguyên đơn xác định trong quá trình sống chung, ông và bà N có 01 con chung tên Trần Trung H, sinh ngày: 23/01/2018. Tại phiên tòa, ông K yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung, và tại bản tự khai ngày 27/12/2021, bà N cũng yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung. Ông K trình bày hiện ông là lao động tự do, có thu nhập ổn định đủ để nuôi dưỡng con chung. Đối với bà N, vắng mặt tại phiên tòa và không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh điều kiện nuôi dưỡng con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điều kiện kinh tế và điều kiện môi trường sống thực tế của các đương sự và căn cứ vào văn bản số: 891/UBND ngày 27/5/2022 của Ủy ban nhân dân xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Hội đồng xét xử xác định điều kiện chăm sóc trẻ Trung H của ông K cao hơn so với bà N.
Từ nhận định trên, để ổn định tâm sinh lý và để đảm bảo điều kiện sống cho trẻ Trung H, Hội đồng xét xử giao trẻ Trần Trung H cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về mức cấp dưỡng nuôi con chung, tại đơn xin ly hôn và tại phiên tòa, ông K xác định không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con chung. Đây là sự tự nguyện của ông K, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không có.
Bị đơn vắng mặt tại phiên toà, nếu có tranh chấp về nuôi con chung, về chia tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.
Từ nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi và yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật phí, lệ phí tòa án số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015, nghĩ nên buộc nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trần Văn K
1. Về hôn nhân:
Cho ly hôn giữa ông Trần Văn K và bà Võ Thị N.
(Quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Văn K và bà Võ Thị N được xác lập theo Giấy chứng nhận kết hôn số:60 ngày 29/7/2017 do Ủy ban nhân dân xã P, Huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp)
2. Về nuôi con chung: Giao trẻ Trần Trung H, sinh ngày: 23/01/2018 cho ông Trần Văn K trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu theo quy định tại Điều 84, Điều 119 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về chia tài sản chung, nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng buộc ông Trần Văn K phải nộp, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2019/0086122 ngày 27 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi; ông K đã nộp đủ tiền án phí.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn không có mặt tại phiên toà thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi; - UBND xã P, huyện C; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Thơ |