- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN BÌNH CHAÙNH THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Baûn aùn soá:1072/2020/HNGÑ-ST Ngaøy: 05-11-2020 V/v Tranh chaáp ly hoân |
NHAÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN BÌNH CHAÙNH THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nguyên.
2. Ông Nguyễn Ngọc Phương.
Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thị Thái- Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2020, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 102/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 321/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bé E, sinh năm: 1976;
Địa chỉ: Nhà không số kế bên nhà số 10/20 ấp 2, xã Tân Quý Tây, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).
Bị đơn: Ông Trần Minh T, sinh năm: 1978;
Địa chỉ: Nhà không số kế bên nhà số 10/20 ấp 2, xã Tân Quý Tây, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại ñôn xin ly hoân ngày 03 tháng 01 năm 2020, baûn töï khai, biên bản không tiến hành hòa giải được nguyeân ñôn baø Trần Thị Bé E trình baøy:
Bà Trần Thị Bé E và ông Trần Minh T sống chung với nhau từ năm 2005, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Theo giấy chứng nhận kết hôn số 11 KH 2005, quyển số 01 do UBND xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre cấp ngày 19/01/2005.
Thời gian đầu sống chung hạnh phúc và có hai con chung tên Trần Ngọc Gia Hân, sinh ngày 21/10/2007 và Trần Ngọc Gia Nghi, sinh ngày 02/01/2015. Sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, nguyên nhân là do tính tình, quan điểm của hai vợ chồng không còn hòa hợp, thường xuyên xảy ra những mâu thuẫn bất đồng trong cuộc sống. MAÃU 52/NQ01/2017
Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà E yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: Có hai con chung tên Trần Ngọc Gia Hân, sinh ngày 21/10/2007 và Trần Ngọc Gia Nghi, sinh ngày 02/01/2015. Bà Trần Thị Bé E yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai trẻ Hân và Nghi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thị Bé E không yêu cầu ông Trần Minh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về T sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông Trần Minh T vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không tham dự phiên tòa. Đồng thời ông có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên việc giải quyết vụ án vẫn còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.
Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá các T liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các T liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Veà tố tụng:
[1.1].Bà Trần Thị Bé E khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông Trần Minh T; Ông T có nơi cư trú tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
.Về sự vắng mặt của bị đơn ông Trần Minh T, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông T vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án; Ông Trần Minh T có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Veà nội dung: MAÃU 52/NQ01/2017
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn 11 KH 2005, quyển số 01 do UBND xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre cấp ngày 19/01/2005, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Bé E và ông Trần Minh T là hôn nhân hợp pháp được qui định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị Bé E xác nhận là đời sống chung giữa bà và ông T có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không còn hòa hợp, cả hai đã sống ly thân từ đầu năm 2019 đến nay và không ai còn quan tâm chăm sóc nhau từ lâu.
Tại kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân dân xã Tân Quý Tây, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh thì xã không nắm được tình trạng hôn nhân của bà E và ông T. Tuy nhiên qua lời trình bày của bà E và thực tế cả hai đã sống ly thân từ lâu, không ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau thì có cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa bà E và ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc bà Trần Thị Bé E yêu cầu ly hôn với ông Trần Minh T là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Bé E .
Về con chung: Có hai con chung tên Trần Ngọc Gia Hân, sinh ngày 21/10/2007 và Trần Ngọc Gia Nghi, sinh ngày 02/01/2015. Bà Trần Thị Bé E yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai trẻ Hân và Nghi. Xét yêu cầu của bà E là phù hợp, bởi lẽ kể từ khi bà và ông T sống ly thân thì các con đều do bà trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và đều có nguyện vọng sống với mẹ; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà E.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thị Bé E không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông T.
Về T sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng ông T vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về T sản chung, nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử xE xét giải quyết vấn đề T sản chung, nợ chung theo chứng cứ và yêu cầu của bà E. Trường hợp các đương sự có tranh chấp về T sản chung và nợ chung sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
Ông Trần Minh T đã được Tòa án triệu tập đến để ghi nhận ý kiến, tiến hành thủ tục giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như việc tham gia phiên tòa xét xử giải quyết vụ án với nguyên đơn nhưng ông vẫn vắng mặt. Vì vậy, ông T đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở xE xét giải quyết vụ án.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Trần Thị Bé E phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
Vì caùc leõ treân, MAÃU 52/NQ01/2017
QUYEÁT ÑÒNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227 và khoản 1 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ vào Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyeân xöû:
1. Veà quan heä hôn nhân: Chaáp nhaän yeâu caàu ly hoân cuûa baø Trần Thị Bé E đối với ông Trần Minh T.
Bà Trần Thị Bé E được ly hôn với ông Trần Minh T. Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Bé E và ông Trần Minh T chấm dứt cũng như Giấy chứng nhận kết hôn số 11 KH 2005 do UBND xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre cấp ngày 19/01/2005 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao hai trẻ Trần Ngọc Gia Hân, sinh ngày 21/10/2007 và Trần Ngọc Gia Nghi, sinh ngày 02/01/2015 cho bà Trần Thị Bé E trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông T.
Ông Trần Minh T có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này.
3.Về T sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng ông T vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về T sản chung, nợ chung.Trường hợp các đương sự có tranh chấp về T sản chung và nợ chung sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
4.Về án phí: Bà Trần Thị Bé E chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0078553 ngày 10/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà E đã nộp đủ án phí.
5.Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo luật định.
| Nơi nhận: - Các đương sự (4); - VKSND H. Bình Chánh (2); - Chi cục THADS H. Bình Chánh (1); - Cơ quan nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn (1); - Lưu hồ sơ vụ án (4). MAÃU 52/NQ01/2017 MAÃU 52/NQ01/2017 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Chiến |