vanban.org

Bản án 1072/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/08/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Mai

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Minh H-Mai K"
  • Tòa quyết gì? HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
  • Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC Quy định v…; Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1072/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 29/8/2019
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa:"Bà Trần Thị Nhung"

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:""""""""

1. Bà Phan Thanh Minh

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Hồng Thanh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Thắng – Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 404/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3008/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5899/2019/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên"đơn: Bà Lê Thị Minh H, sinh năm 1988

Địa chỉ: 490/27 Đường X, Khu phố Y, phường D, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị"đơn: Ông Mai K, sinh năm 1976

Địa chỉ: 8922 DDGGCA 92841, USA

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 02/8/2018 và bản tự khai, nguyên đơn bà Lê Thị Minh H trình bày:

Bà và ông Mai K tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn với nhau tại Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn vào sổ số 214, quyển số 02 ngày 21/01/2014.

Sau khi kết hôn được 10 ngày ông Mai K quay trở về Hoa Kỳ. Hai bên có liên lạc với nhau được vài tháng qua điện thoại thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau. Sau đó bà có nhắn tin, điện thoại nhiều lần nhưng vẫn không liên lạc được. Từ 3 năm nay mạnh ai nấy sống. Bà nhận thấy không còn tình cảm, không muốn tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân này, bà yêu cầu ly hôn ông Mai K. Về con chung: không có Về tài sản chung, nợ chung: không có. Bị đơn ông Mai K cư trú ở Hoa Kỳ, Tòa án thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp, đã gửi văn bản Thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa xét xử vụ án dân sự sơ thẩm số 750/UTTPDS-TA30 ngày 02/11/2018. Theo nội dung tại Thông báo nêu trên thì thời gian mở phiên tòa lần 1 vào lúc 8g00 ngày 02/8/2019, thời gian mở phiên tòa lần 2 vào lúc 8g00 ngày 29/8/2019. Văn bản được Bộ Tư pháp gửi đến Công ty ABC Legal, Hoa Kỳ ngày 10/12/2018. Ngày 05/3/2019, Tòa án nhận được Văn bản số 543/BTP-PLQT ngày 25/02/2019 của Bộ Tư pháp thông báo Cơ quan có thẩm quyền của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên vào ngày 26/01/2019 bằng phương thức chuyển cho người sống chung cùng đương sự. Đến ngày mở phiên tòa, Tòa án không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của ông Mai K và ông cũng không có mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn bà Lê Thị Minh H có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa. Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, thủ tục ủy thác tư pháp, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu và thủ tục xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bà Lê Thị Minh H được ly hôn ông Mai K. Con chung, tài sản chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị Minh H đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam; bị đơn ông Mai K cư trú tại Hoa Kỳ; giữa đôi bên có tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38, Điều 464, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Minh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Mai K vắng mặt đến lần thứ 2. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy:

Bà Lê Thị Minh H và ông Mai K tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2014, có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn vào sổ số 214, quyển số 02 ngày 21/01/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, hôn nhân giữa đôi bên là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Theo lời khai của bà H thì sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được 10 ngày thì ông Mai K quay trở về Hoa Kỳ. Vợ chồng liên lạc với nhau qua điện thoại. Qua sự liên lạc này, giữa hai bên bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, từ đó cắt đứt liên lạc. Từ năm 2016 đến nay vợ chồng chấm dứt liên lạc. Bà H xác định không còn tình cảm với chồng, không muốn tiếp tục cuộc hôn nhân nữa và có yêu cầu ly hôn.

Xét, tình nghĩa vợ chồng phải xuất phát từ cả hai phía cùng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Thực tế vợ chồng đã không còn sống cùng nhau, không tạo được điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn giữa vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng. Do đó, nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của hôn nhân cũng không thể đạt được. Xét, đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu được ly hôn của bà H.

Về con chung: Bà H khai không có.

Về tài sản chung và nợ chung: bà H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu có tranh chấp các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng nguyên đơn chịu.

Vì"các"lẽ"trên;"

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38; Điều 464; Điều 469; Điều 474; Điều 477; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008; Căn cứ Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp-Bộ Ngoại giao-Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự; Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Minh H được ly hôn ông Mai K. Giấy chứng nhận kết hôn vào Sổ số 214, quyển số 02 ngày 21/01/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. 2. Về con chung: Bà Lê Thị Minh H khai không có 3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Minh H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật. 4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Lê Thị Minh H phải chịu, nộp tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, cấn trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà H đã nộp tại Biên lai thu số AA/2017/0049398 ngày 14/08/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, bà H đã nộp đủ án phí. Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn bà Lê Thị Minh H và bị đơn ông Mai K; bà Lê Thị Minh H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ, ông Mai K được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Mai

Phan Thanh Minh

Trần Thị Nhung

Cỡ chữ