vanban.org

Bản án 107

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

{1}. Tuyên bố bị cáo: Vương Quốc N phạm tội "Trộm cắp tài sản".

{2}. Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt: Vương Quốc Nh 2 (hai) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vương Quốc N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? {1}. Tuyên bố bị cáo: Vương Quốc N phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI LỘC
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 107/2020-HSST
Ngày 19/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC- TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Loan Hòa

- Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Quang Hòa, ông Hoàng Văn Minh

- Thư kí phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hoài- Thư kí Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc: bà Nguyễn Thị Lan Anh- Kiểm sát viên

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2020 tại Hội trường trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 99/2020/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2020 đối với:

Bị cáo Vương Quốc N; Giới tính: nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 01 tháng 6 năm 1989 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Nơi ĐKHKTT: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; TĐVH: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Con ông Vương Quốc S và bà Vương Thị L. Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/8/2020 đến nay tại trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

+ Ông Vương Quốc S, sinh năm 1950 và bà Vương Thị L, sinh năm 1958.

Đồng trú tại: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Ông S vắng mặt, bà L có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Hữu A, sinh năm 1974

Trú tại:, trú tại xóm 13, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 7/2020 đến ngày 06/8/2020; tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Vương Quốc N đã thực hiện 03 hành vi trộm cắp tài sản của ông Vương Quốc S và bà Vương Thị L:

Hành vi thứ nhất: Lúc 22 giờ một ngày đầu tháng 7/2020, lợi dụng khi cả nhà đi ngủ, Vương Quốc N đi lên phòng khách của gia đình thấy có 01 chiếc quần dài của ông Vương Quốc S để trên ghế. Nhiên lục tìm thì thấy ở túi quần phía sau có một chiếc ví da màu đen; Bị cáo đã lấy trộm số tiền 23.000.000 đồng, để chiếc ví cùng số tiền còn lại vào vị trí cũ, sau đó tiêu xài cá nhân hết.

Hành vi thứ 2: Khoảng 16 giờ ngày 27/7/2020, lợi dụng khi cả nhà đi vắng, Vương Quốc N đã lấy 01 chiếc chìa khóa ở dưới chân tủ đặt tại phòng ngủ của gia đình, đi lên phòng khách dùng chìa khóa mở ngăn bên trái của chiếc tủ (tính từ ngoài vào), thấy có một hộp nhựa màu hồng hình tròn, bên trong có 01 sợi dây chuyền vàng của bà Vương Thị L; N đã lấy trộm sợi dây chuyền vàng này và khóa tủ lại như cũ. Sau đó, N đưa sợi dây chuyền đến Doanh nghiệp tư nhân - dịch vụ cầm đồ K ở số 217, đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An và cầm cố sợi dây chuyền vàng cho chủ doanh nghiệp là anh Nguyễn Hữu A lấy 3.500.000 đồng tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 12 giờ ngày 28/7/2020, N tiếp tục đến cửa hàng lấy thêm số tiền cầm cố sợi dây chuyền vàng là 2.500.000 đồng, sau đó tiêu xài cá nhân hết.

Đến khoảng 16 giờ ngày 29/7/2020, N quay lại cửa hàng cầm đồ, thỏa thuận, bán sợi dây chuyền vàng với giá 25.000.000 đồng, anh A đã đưa cho N số tiền còn lại là 19.000.000 đồng. Anh Nguyễn Hữu A sau khi mua sợi dây chuyền vàng đã bán lại cho người khác không xác định được nhân thân, lý lịch cụ thể.

Hành vi thứ 3: Khoảng 04 giờ ngày 06/8/2020, lúc cả nhà đang ngủ, Vương Quốc N đã đi lên phòng khách của gia đình, thấy trên chiếc ghế có 01 chiếc quần dài màu xám của ông Vương Quốc S. N lục tìm thấy ở túi quần phía sau có một chiếc ví màu đen, mở ra thấy bên trong có tiền, N đã rút trộm 5.000.000 đồng và cất chiếc ví cùng số tiền còn lại vào vị trí cũ, sau đó tiêu xài cá nhân hết.

Vào hồi 09 giờ ngày 10/8/2020, bà Vương Thị L đã đến Công an huyện Nghi Lộc trình báo về việc bị mất trộm sợi dây chuyền vàng. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, Vương Quốc N đã ra đầu thú và khai nhận các hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 36/KL.ĐG ngày 12/8/2020 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã kết luận:“01 sợi dây chuyền vàng ta có khối lượng 5 chỉ (mua vào thời điểm năm 2018). Giá trị của tài sản theo yêu cầu định giá tài sản của Công an huyện số tiền 27.800.000 đồng (Hai mươi bảy triệu tám trăm nghìn đồng)”.

Như vậy, trị giá tài sản Vương Quốc N chiếm đoạt của ông Vương Quốc S và bà Vương Thị L là 55.800.000 đồng (Năm mươi lăm triệu tám trăm nghìn đồng).

Theo Cáo trạng số 39/CT-VKS-NL ngày 08.4.2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc thì bị cáo Vương Quốc N bị truy tố về tội danh "Trộm cắp tài sản" điểm c khoản 2 theo Điều 173 bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 quy định về hình phạt cho tội danh "Trộm cắp tài sản"; tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần tại điểm g khoản 1 Điều 52 và các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt Vương Quốc N từ 26 đến 28 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ và tạm giam.

Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

{1.} Về hành vi tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Việc xác minh, thu thập vật chứng đúng trình tự, khách quan; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.

{2.} Về cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người tham gia tố tụng trong hồ sơ; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ cũng như nội dung của bản Cáo trạng và trong quá trình tranh tụng: Từ đầu tháng 7/2020 đến ngày 06/8/2020, lợi dụng sơ hở của gia đình mình ở xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Vương Quốc N đã thực hiện 03 hành vi trộm cắp tài sản, chiếm đoạt của bố, mẹ là ông Vương Quốc S 28.000.000 đồng và bà Vương Thị L 01 sợi dây chuyền vàng trị giá 27.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Vương Quốc N chiếm đoạt được là 55.800.000 đồng (Năm mươi lăm triệu tám trăm nghìn đồng). Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo theo Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng với quy định của pháp luật.

{3.} Xét tính chất vụ án, nhân thân, tình tiết định khung hình phạt, tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội của bị cáo:

Đây là vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi bột phát, đơn giản. Mục đích phạm tội xuất phát từ nhu cầu tiêu xài cho cá nhân. Bị cáo đã lợi dụng sự quản lý chủ quan, lỏng lẻo của bố mẹ để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi kể trên là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; Việc điều tra, truy tố và xét xử nhanh chóng vụ án là một việc làm kịp thời của các cơ quan tiến hành tố tụng. Đó không chỉ là bài học cho bị cáo mà còn là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những thanh thiếu niên không lo lao động làm ăn mà chỉ muốn chơi bời hưởng thụ bất chính.

{3.1} Về định khung hình phạt: bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản trị giá 55.800.000 đồng nên bị xét xử theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng quy định.

{3.2}Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 bộ luật Hình sự năm 2015.

{3.3} Về tình tiết giảm nhẹ:

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; tỏ ra ăn năn hối cải và nhận thức được sai phạm. Sau khi phạm tội đã ra đầu thú; Bố đẻ có công với cách mạng được tặng thưởng huân huy chương. Tại phiên tòa, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. §©y lµ c¸c t×nh tiÕt gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÓm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

{4.} Về hình phạt chính; hình phạt bổ sung:

Dựa vào các nhận định trên, cần áp dụng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xem xét khi lượng hình và lên cho bị cáo mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Do bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

{5.} Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, trong hồ sơ thể hiện không có yêu cầu gì nên hội đồng xét xử không xét đến.

Bị cáo phải chịu án phí; người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

{1}. Tuyên bố bị cáo: Vương Quốc N phạm tội "Trộm cắp tài sản".

{2}. Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt: Vương Quốc Nh 2 (hai) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2020.

{4}. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về Lệ phí, án phí Tòa án buộc Vương Quốc N phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

{5}. Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Cỡ chữ