- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Ngọc T bị xét xử tội "Tàng trữ hàng cấm" - tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2026/HS-ST Ngày 23-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Văn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Ninh;
2. Bà Trần Ánh Nhạn.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Hồ Sơn Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2026/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80A/2026/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:
Võ Ngọc T; sinh năm 2003, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú hiện nay: Khu phố B, phường G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không có; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Ngọc H và bà Nguyễn Thị Ngọc H1; vợ, con: chưa có; tiền án: Bản án số 25/2024/HSST ngày 29-3-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh) xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tiền sự: Quyết định xử phạt hành chính số 13/QĐ-XPHC ngày 13-9-2025 của Trưởng Công an phường G xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Quyết định xử phạt hành chính số 13/QĐ-XPHC ngày 09-02-2026 của Trưởng Công an xã B xử phạt 1.750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06-01-2026, chuyển sang tạm giam từ ngày 15-01-2026 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03-01-2026, Võ Ngọc T sử dụng điện thoại di động lên mạng xã hội Facebook vào trang cá nhân của nick Facebook (không xác định được nick cụ thể), T thấy nick Facebook có đăng hình ảnh hộp pháo hoa nổ, T hỏi mua với mục đích để dành đốt vào dịp Tết Nguyên đán năm 2026. Lúc này, T nhắn tin qua ứng dụng tin nhắn M hỏi mua 08 hộp pháo hoa loại 49 ngòi nổ với giá tiền 1.820.000 đồng, hẹn ngày 06-01-2026 đến khu vực gần cửa khẩu Quốc tế M2 thuộc xã B, tỉnh Tây Ninh để nhận pháo và giao tiền thì T đồng ý. Đến khoảng 19 giờ ngày 06-01-2026, tình điều khiển xe Dream (không biển kiểm soát) đi một mình từ nhà đến ngã tư Hữu Nghị thuộc ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh rẽ trái vào đường tỉnh lộ 786 về hướng xã P, tỉnh Tây Ninh đi đến khu vực đất trống, T gặp một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) điều khiển xe mô tô (không biển kiểm soát) đến gặp và giao cho T một thùng giấy carton, bên trong có 08 hộp pháo hoa nổ, T trả 1.820.000 đồng cho người thanh niên và để thùng carton lên xe mô tô chở về nhà. Khi đến khu vực ấp T xã B thì bị Đồn Công an khu kinh tế cửa khẩu M3 và Công an xã B bắt quả tang lúc 21 giờ cùng ngày, tạm giữ người và vật chứng pháo (ký hiệu M) để làm rõ. Vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên Công an xã B đã chuyển nguồn tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Kết luận giám định số 100/KL-KTHS ngày 12-01-2026 của Phòng K Công an tỉnh T: 08 khối hình hộp, kích thước 17cm x 17cm x 10cm bên ngoài hộp có nhiều màu sắc, có in dòng chữ M1 và kí hiệu KS4-4912 (ký hiệu M) được niêm phong gửi đến giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu: Khối lượng 12,5kg. Mẫu vật không phải do Bộ Q sản xuất.
Kết luận giám định số 90/KL-KTHS ngày 11-01-2026 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, số khung và số máy không xác định được số nguyên thủy.
Quá trình điều tra, T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; T có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Dream, màu nâu, không biển kiểm soát, số máy không xác định, số khung không xác định, đã qua sử dụng.
Cáo trạng số 03/CT-VKSKV12 ngày 09-3-2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh truy tố bị cáo Võ Ngọc T về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Ngọc T mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ ngày 06-01-2026, T điều khiển xe đi một mình từ nhà đến khu vực đất trống thuộc ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh gặp một người đàn ông mua 08 hộp pháo hoa nổ với giá 1.820.000 đồng. T để thùng carton lên xe mô tô chở về nhà, khi đến khu vực ấp T xã B thì bị Đồn Công an khu kinh tế cửa khẩu M3 và Công an xã B bắt quả tang lúc 21 giờ cùng ngày. Kết luận giám định số 100/KL-KTHS ngày 12-01-2026 của Phòng K Công an tỉnh T xác định 08 khối hình hộp, kích thước 17cm x 17cm x 10cm bên ngoài hộp có nhiều màu sắc, có in dòng chữ M1 và kí hiệu KS4-4912 (ký hiệu M) được niêm phong gửi đến giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu, khối lượng 12,5kg. Mẫu vật không phải do Bộ Q sản xuất. Do đó, hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng cho bị cáo một mức án nghiêm khắc mới có đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cho bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị án đã bị kết án, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô hiệu Dream, màu nâu, không biển kiểm soát, số máy không xác định, số khung không xác định, đã qua sử dụng, có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo và bị cáo không chứng minh được nguồn gốc, quyền sở hữu hợp pháp nên cần tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước.
Đối với các đối tượng, hành vi có liên quan khác: Đối với người đàn ông bán pháo hoa nổ cho T do không xác định được nhân thân, lai lịch, chưa làm việc được nên không đủ căn cứ xem xét xử lý.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Ngọc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06-01-2026.
2. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung vào Ngân sách của Nhà nước: 01 xe mô tô, loại Dream, màu nâu, không biển kiểm soát, số máy không xác định, số khung không xác định, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 12, tỉnh Tây Ninh).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Bị cáo Võ Ngọc T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Phòng KTNV. TA tỉnh Tây Ninh; - Phòng PV 06 CA tỉnh Tây Ninh; - VKSND khu vực 12 – Tây Ninh; - Phân trại tạm giam Gia Lộc; - CQ.THAHS CA. tỉnh Tây Ninh; - Phòng THADS KV 12; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án HSST./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Đình Văn |