- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HON (VU QUANG H - TRÂN THI NGOC P)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2026/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2026 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Phúc và bà Lê Thị Tuyết Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Tường Vân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Như Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai, thành phố Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 186/2026/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2026, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa 70/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vũ Quang H – sinh năm 1988
Địa chỉ: Ấp P, xã P, thành phố Đ.
- Bị đơn: Bà Trần Thị Ngọc P – sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp P, xã P, thành phố Đ.
(Ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Vũ Quang H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông H và bà P kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 13/08/2009 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định. Ông bà chung sống đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm và không hòa hợp, dẫn đến cãi nhau. Từ năm 2025, ông bà không còn sống chung với nhau đến nay. Ông nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn đối với bà P
- Về nuôi con: Ông bà có 03 (Ba) con chung tên là Vũ Bảo K – sinh ngày 15/02/2010, Vũ Bảo T – sinh ngày 19/09/2013, Vũ Hoàng Bảo N – sinh ngày 13/09/2015. Từ khi không sống chung, các con do bà P nuôi dưỡng. Khi ly hôn, ông đồng ý giao các con cho bà P nuôi dưỡng, tạm thời ông không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: Ông H trình bày ông và bà P tự thoả thuận tài sản chung và không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà P không đến Tòa án tham gia tố tụng, khi Tòa án đến trực tiếp tại địa phương thì không gặp được, nên không thu thập được lời khai.
Tòa án đã tiến hành sao gửi các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp cho bị đơn và thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các đương sự.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không thay đổi, bổ sung ý kiến, đề nghị của mình; bị đơn không có yêu cầu phản tố. Các đương sự không giao nộp, bổ sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H. Về hôn nhân: Cho ông H được ly hôn với bà P. Về con chung: Giao cho bà P trực tiếp nuôi các con chung, tạm thời ông H chưa phải cấp dưỡng cho con. Về tài sản: Đề nghị về tài sản chung, nợ chung sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có tranh chấp. Về án phí: Ông Huy phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- Bị đơn bà Trần Thị Ngọc P có nơi cư trú, sinh sống tại xã P, thành phố Đ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
- Ông Vũ Quang H khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bà P, tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định tư cách đương sự ông H là nguyên đơn và bà P là bị đơn, quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt tại phiên họp, phiên hòa giải không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa ông H và bà P được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật ngày 13/08/2009; như vậy, hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Ông H trình bày trong quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, không thể tự hòa giải đoàn tụ nên đã không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành giải thích quy định của pháp luật, vận động, hòa giải nhưng ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bà P vắng mặt; nên hòa giải đoàn tụ không thành. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án về tình trạng hôn nhân và các tài liệu, chứng cứ khác cũng thể hiện phù hợp với lời khai của các đương sự.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định, ông H và bà P đã không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận.
- Về nuôi con: Ông bà có 03 (Ba) con chung tên là Vũ Bảo K – sinh ngày 15/02/2010, Vũ Bảo T – sinh ngày 19/09/2013, Vũ Hoàng Bảo N – sinh ngày 13/09/2015. Khi ly hôn, ông đồng ý giao các con cho bà P nuôi dưỡng, tạm thời ông không cấp dưỡng nuôi con. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương và các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện: Từ sau khi xảy ra mâu thuẫn, các con chung do bà P trực tiếp nuôi dưỡng, bản thân bà có trách nhiệm chăm sóc và nghề nghiệp thu nhập ổn định đủ khả năng nuôi dưỡng con chung; đồng thời các con chung có nguyện vọng sống cùng với bà P và bà cũng đồng ý chấp nhận. Căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu về nuôi con chung của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận.
- Về tài sản: Ông H trình bày ông bà tự thoả thuận tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà P không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung, nợ chung và không có yêu cầu phản tố. Vì vậy, Hội đồng xét xử tách phần tài sản ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
- Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Quang Huy.
- Về hôn nhân: Cho ông Vũ Quang H được ly hôn với bà Trần Thị Ngọc P.
- Về nuôi con: Giao cho bà Trần Thị Ngọc P trực tiếp nuôi 03 (Ba) con chung tên là Vũ Bảo K – sinh ngày 15/02/2010, Vũ Bảo T – sinh ngày 19/09/2013, Vũ Hoàng Bảo N – sinh ngày 13/09/2015; tạm thời ông H chưa phải cấp dưỡng cho con.
Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản: Tài sản chung và nợ chung của các đương sự sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
2. Về án phí: Ông Vũ Quang H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ông H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009263 ngày 21/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đ nay là Thi hành án dân sự thành phố Đ được chuyển thành án phí.
3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8 Luật thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự năm 2025.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- VKSND Khu vực 8 – Đồng Nai;
| - Thi hành án dân sự thành phố Đồng Nai; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã Phú Lâm (số 84, ngày 13/8/2009) để ghi vào sổ hộ tịch; - Lưu Hồ sơ – Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Xuân Hồng |