vanban.org

Bản án 107/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ch được ly hôn với anh Phạm Xuân Th.

Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2020 do Ủy ban nhân dân xã Bình Xa cấp ngày 23 tháng 11 năm 2020 cho chị Nguyễn Thị Ch và anh Phạm Xuân Th không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu pháp luật. Về con chung: Giao cháu Phạm Gia B, sinh ngày 10/02/2023 cho chị Nguyễn Thị Ch được quyền trực tiếp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ch - Phạm Xuân Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ch được ly hôn với anh Phạm Xuân Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2025/HNGĐ -ST
Ngày 16/9/2025
“Về việc tranh chấp hôn nhân gia đình giữa
chị Nguyễn Thị Ch và anh Phạm Xuân Th”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Cao Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tống Xuân Quyết.

2. Bà Nông Thị Hương.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 -Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 106/2025/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 5 năm 2025 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn Đ, xã B, tỉnh Tuyên Quang).

* Bị đơn: Anh Phạm Xuân Th, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn Đ, xã B, tỉnh Tuyên Quang).

(Chị Ch có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Th vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ch trình bày: Về quan hệ hôn nhân, chị và anh Phạm Xuân Th có quan hệ hôn nhân hợp pháp, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2020 ngày 23/11/2020. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng nhau tại thôn Đ, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn Đ, xã B, tỉnh Tuyên Quang). Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận, đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, gia đình đã khuyên nhủ, hòa giải nhưng không đạt kết quả, tình cảm ngày càng rạn nứt, vợ chồng sống ly thân không quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng kéo dài. Vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Xuân Th theo quy định của pháp luật, chấm dứt tình trạng hôn nhân như hiện nay.

Về con chung: Chị và anh Th có 01 con chung là cháu Phạm Gia B, sinh ngày 10/02/2023; hiện nay cháu đang ở cùng chị; ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu và không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Chị xác định, chị và anh Th không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần báo gọi anh Phạm Xuân Th đến để viết bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Th đều không có mặt. Tòa án đã tiến hành xác minh với ông Hoàng Văn H, trưởng thôn Đ, xã B, tỉnh Tuyên Quang và xác minh đối với ông Phạm Văn Kh là bố đẻ của anh Phạm Xuân Th. Kết quả thể hiện, anh Phạm Xuân Th hiện nay có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã B, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn Đ, xã B, tỉnh Tuyên Quang) nhưng hiện tại anh đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về thăm gia đình. Chị Ch và anh Th được tự do tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Cuộc sống chung thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc; đến cuối năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, anh chị sống ly thân từ cuối năm 2023 đến nay, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Đại diện thôn và gia đình ông Phạm Văn Kh có nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng, tài liệu của Tòa án và đã thông báo cho anh Phạm Xuân Th biết nhưng anh Th hiện nay đang đi làm ăn xa, không đến Tòa án làm việc được. Chị Ch và anh Th có 01 con chung là cháu Phạm Gia B, sinh ngày 10/02/2023; hiện nay cháu đang sinh sống cùng chị Nguyễn Thị Ch. Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Ch và anh Phạm Xuân Th không có tài sản, đất đai, vay nợ chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định; bị đơn không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 267, 271, 273 của BLTTDS; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân, đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị Ch được ly hôn với anh Phạm Xuân Th.

Về con chung, đề nghị giao cháu Phạm Gia B, sinh ngày 10/02/2023 cho chị Nguyễn Thị Ch được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Phạm Xuân Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở; các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.

Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị buộc chị Nguyễn Thị Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và ý kiến của chị Nguyễn Thị Ch, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ch và anh Phạm Xuân Th có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã B, tỉnh Tuyên Quang) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2020 ngày 23/11/2020 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Như vậy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ch và anh Phạm Xuân Th là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, hòa thuận, đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh chị sống ly thân không quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Ch và anh Th không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng căng thẳng, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc và tiến bộ. Vì vậy, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ch, xử cho chị Nguyễn Thị Ch được ly hôn với anh Phạm Xuân Th.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Ch và anh Th có một con chung là cháu Phạm Gia B, sinh năm 10/02/2023. Hiện tại cháu đang sinh sống cùng chị Ch. Để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển mọi mặt của cháu, xét thấy chị Ch có việc làm và đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, do vậy giao cho chị Ch nuôi con chung là phù hợp, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.

Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Chị Ch, anh Th xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về việc vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Xuân Th vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú và các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung, quan hệ tài sản, đất đai, vay nợ chung của chị Ch và anh Th, cũng như đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đảm bảo đúng với các quy định của pháp luật. Kết quả xác minh đã thể hiện anh Th có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã Bì, tỉnh Tuyên Quang. Anh Thắng đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về thăm gia đình. Các thủ tục tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng và xác minh của Tòa án đã thực hiện đầy đủ và đúng với các quy định của pháp luật về việc giải quyết vụ án trong trường hợp một bên đương sự vắng mặt. Tại phiên toà chị Ch có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ch phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Ch đã nộp. Anh Phạm Xuân Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ch.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ch được ly hôn với anh Phạm Xuân Th.

Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2020 do Ủy ban nhân dân xã Bình Xa cấp ngày 23 tháng 11 năm 2020 cho chị Nguyễn Thị Ch và anh Phạm Xuân Th không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Gia B, sinh ngày 10/02/2023 cho chị Nguyễn Thị Ch được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Phạm Xuân Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở; các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ch phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 90 ngày 07/5/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang (nộp theo hình thức trực tuyến trên cổng dịch vụ công quốc gia), chị Ch đã nộp đủ tiền án phí; anh Phạm Xuân Th không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ