vanban.org

Bản án 107/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mai Thị Mỹ H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị Mỹ H được ly hôn với ông Bạch Văn B. 2. Về con chung: Bà Mai Thị Mỹ H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Bạch Mai Thiên V, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2017; ông Bạch Văn B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ hàng tháng, mỗi tháng cấp dưỡng số tiền là… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TC ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mai Thị Mỹ H.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 74/2024/NĐ-CP Quy định mức lương tối thiểu đối…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤNG HIỆP
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 5 - 2025
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hữu Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Công Điện;

Ông Nguyễn Văn Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Cẩm Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025, về tranh chấp ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025, và Quyết định hoãn phiên tòa số: 72/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Mai Thị Mỹ H, sinh năm 1986

Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bạch Văn B, sinh năm 1983

Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, nguyên đơn là bà Mai Thị Mỹ H trình bày:

Nguyên đơn và bị đơn là ông Bạch Văn B tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2016, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng chung sống không hợp, thường bất đồng quan điểm, dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Do đó, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay.

Về con chung: Có 01 con chung là Bạch Mai Thiên V, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2017. Hiện do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn là ông Bạch Văn B; yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn là ông Bạch Văn B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có lời trình bày.

- Trong bản tự khai ngày 12 tháng 4 năm 2025, con chung của nguyên đơn và bị đơn là Bạch Mai Thiên V trình bày nguyện vọng muốn sống chung với nguyên đơn khi nguyên đơn và bị đơn ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Xuất phát từ mâu thuẫn vợ chồng, các đương sự đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Thời gian sống ly thân đã lâu, nhưng các đương sự không gặp gỡ để bàn biện pháp hàn gắn quan hệ hôn nhân; bỏ mặc vợ, chồng để sống ly thân; không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt để trình bày ý kiến có mong muốn đoàn tụ hay không. Từ đó cũng đủ thấy hôn nhân giữa các đương sự đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Xét con chung của các đương sự là Bạch Mai Thiên V đã được nguyên đơn nuôi dưỡng ổn định từ lúc các đương sự ly thân cho đến nay, cuộc sống đã ổn định nên không cần thiết phải xáo trộn; đồng thời, con chung của nguyên đơn và bị đơn là cháu Bạch Mai Thiên V cũng có nguyện vọng muốn sống chung với nguyên đơn. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Xét cháu Bạch Mai Thiên V là con chưa thành niên, bị đơn không trực tiếp nuôi dưỡng nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định khoản 2 Điều 82 và Điều 110 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Do các bên không thỏa thuận mức cấp dưỡng, đồng thời không chứng minh được thu nhập và khả năng thực tế của người phải cấp dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu, buộc bị đơn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ hàng tháng, mỗi tháng bằng một phần hai mức lương tối thiểu vùng IV là: 3.450.000 đồng/tháng x ½ = 1.725.000 đồng/tháng.

Về tài sản: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung; bị đơn không có mặt để xác định có tài sản chung, nợ chung hay không, có yêu cầu Tòa án giải quyết hay không. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, mà ghi nhận cho các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn bằng vụ kiện khác nếu có tài sản chung và nợ chung. [4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mai Thị Mỹ H.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị Mỹ H được ly hôn với ông Bạch Văn B.

1.2. Về con chung: Bà Mai Thị Mỹ H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Bạch Mai Thiên V, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2017; ông Bạch Văn B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ hàng tháng, mỗi tháng cấp dưỡng số tiền là 1.725.000 đồng (một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/5/2025) cho đến khi cháu Bạch Mai Thiên V đủ 18 tuổi.

Bà Mai Thị Mỹ H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Bạch Văn B trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, không xem xét.

2. Về án phí: Ông Bạch Văn B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng. Bà Mai Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001799 ngày 03 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí, bà Mai Thị Mỹ H không phải nộp thêm.

3. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ