- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con giữa chị N và anh T"
- Tòa quyết gì? 1- Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Phan Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2025/HNGĐ - ST Ngày: 25 - 9 - 2025. V/v: Tranh chấp ly hôn, con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Trọng Ích
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Mạnh Toàn.
2. Bà Dương Thị Vui.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025. Về vụ án kiện xin ly hôn và giải quyết con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: ...../2025/QĐST – HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2025 giữa:
+ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N - Sinh năm 1982; Địa chỉ: Xóm F, xã R, tỉnh Ninh Bình. (địa chỉ cũ Khu phố F, thị trấn R, tỉnh Nam Định).
+ Bị đơn: Anh Phan Văn T - Sinh năm 1979. Địa chỉ: Xóm F, xã R, tỉnh Ninh Bình. (địa chỉ cũ Khu phố F, thị trấn R, tỉnh Nam Định).
Tại phiên tòa vắng mặt chị N, anh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị N vắng mặt, trong đơn khởi kiện và lời khai của chị N tại các buổi làm việc với Toà án thể hiện: Chị kết hôn với anh Phan Văn T vào tháng 08/2001 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã Q, tỉnh Ninh Bình). Sau khi được cấp đăng kết hôn vợ chồng về chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và làm ăn kinh tế dẫn đến cãi chửi nhau. Vợ chồng ly thân nhau từ năm 2021, trong thời gian vợ chồng ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T là không còn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn anh Phan Văn T.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị N xác định giữa chị và anh T có hai con chung là cháu Phan Thị Thúy N1 sinh tháng 4/2003 hiện đã xây dựng gia đình và cháu Phan Khánh D, sinh ngày 10/10/2012. Kể từ khi vợ chồng ly thân cháu D đang do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn chị xin nhận trực tiếp nuôi cháu D, không yêu cầu anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị N, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm chị đề nghị giải quyết theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay anh Phan Văn T vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, liên lạc với anh T lên Tòa để giải quyết vụ án nhưng anh T cố tình vắng mặt và không hợp tác. Tòa án đã làm việc với chính quyền địa phương và niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án:
Trong quá trình giải quyết vụ án cháu Phan Khánh D trình bày: Từ khi bố mẹ ly thân cháu ở với mẹ. Bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng xin ở cùng với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Hôn nhân giữa chị N và anh T là hôn nhân tiến bộ, hợp pháp. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Xét thấy hôn nhân giữa chị N và anh T không còn nên: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Phan Văn T; Về con chung: Giao cháu Phan Khánh D, sinh ngày 10/19/2012 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T1 không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội tuyên chị N2 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị N đều đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là là xã R tỉnh Ninh Bình). Chị N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng nay là Tòa án khu vực 11 – Ninh Bình thụ lý giải quyết vụ án chị xin ly hôn anh T và được Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự và và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị N vắng mặt nhưng chị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt chị N2 là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay anh Phan Văn T vắng mặt, Tòa án đã niêm yết công khai và thông báo cho anh T nhưng anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt anh T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Phan Văn T vào tháng 8 năm 2001 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã Q tỉnh Ninh Bình) cấp đăng ký kết hôn là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng đã có thời gian chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và trong làm ăn kinh tế dẫn đến cãi nhau do không thể hàn gắn, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 20219 trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Anh T1 đã được Tòa án thông báo và niêm yết công khai nhưng không về để tham gia giải quyết vụ án và không có quan điểm, Thấy vợ chồng ly thân nhiều năm, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, khả năng đoàn tụ là không còn mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N xin ly hôn anh T1 nên chấp nhận là phù hợp.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Phan Văn T có hai con chung là cháu Phan Thị Thúy N1 sinh tháng 4/2003 hiện đã xây dựng gia đình và ở riêng và cháu Phan Khánh D, sinh ngày 10/10/2012. Kể từ khi vợ chồng ly thân cháu D đang do chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn chị N xin nhận trực tiếp nuôi cháu D, không yêu cầu anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Phía anh T khônng có quan điểm. Xét việc xin nhận nuôi con chung là cháu D và không yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng mình của chị N thấy là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật, bản thân cháu D có nguyện vọng xin ở với mẹ vì vậy được chấp nhận.
Về tài sản chung vợ chồng: Chị Nguyễn Thị N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thị N phải nộp theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1- Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Phan Văn T.
2- Về con chung: Xử giao con chung là cháu Phan Khánh D, sinh ngày 10/10/2012 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Phan Văn T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.
3- Án phí dân sự sơ thẩm chị Phan Thị N3 phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N3 đã nộp theo biên lai số 0001667 ngày 28/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 - Ninh Bình. Chị N3 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dânTỉnh. - VKSND khu vực 11 - Ninh Bình. - THADS tỉnh Ninh Bình. - UBND xã Quỹ Nhất. - Các đương sự. - Lưu án văn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Trọng Ích |