vanban.org

Bản án 107/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 17/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 08/3/2023). Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Thế B hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì, bên ngoài ghi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2023/HS-ST
Ngày: 17 – 7 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Tiến Thịnh

2. Ông Phạm Thế Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Thế B, sinh ngày 26/11/1979; Nơi cư trú: Số nhà 02, ngõ 204, đường H, tổ 07, phường P, thành phố T, tỉnh T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Mạnh Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (bà C được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất); Có vợ là Đào Thị T1 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2004.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Quyết định số 39/2020/QĐ-TA ngày 24/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 02 năm. Chấp hành xong ngày 19/6/2022.

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 62 ngày 26/02/2007 của Công an thành phố T xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản, phạt tiền 200.000 đồng, thi hành xong ngày 28/02/2007.

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05 ngày 29/3/2007 của Công an thành phố T xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức phạt cảnh cáo.

Bản án số 29/2007/HSST ngày 22/6/2007 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh T xử phạt Nguyễn Thế B 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù tháng 10/2007, chấp hành xong án phí ngày 18/02/2008.

Quyết định số 866/QĐ-UB ngày 18/6/2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T áp dụng đưa vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội thành phố T, lý do nghiện ma túy, thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 18/6/2009.

Bản án số 38/2019/HSST ngày 12/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt Nguyễn Thế B 01 năm 03 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2020, chấp hành xong án phí ngày 12/4/2019.

Bị tạm giữ từ ngày 08/3/2023 đến ngày 11/3/2023 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (Có mặt)

- Người chứng kiến:

+ Anh Đào Đình T2, sinh năm 1992. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Số nhà 01/48, ngõ 50, đường H, tổ 09, phường P, thành phố T, tỉnh T.

+ Anh Phạm Văn T3, sinh năm 1992. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Số nhà 60, đường H, tổ 09, phường P, thành phố T, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 08/3/2023, Nguyễn Thế B đi bộ từ nhà đến khu vực ngã tư P thuộc tổ 01, phường P, thành phố T, tỉnh T thì gặp và mua được của một người nam giới khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. B cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm chỗ sử dụng. Đến 16 giờ cùng ngày, B đi đến khu vực đường N, thuộc tổ 02, phường P, thành phố T thì bị tổ công tác Công an phường P, thành phố T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Đào Đình T2 và anh Phạm Văn T3, B đã tự giác đưa từ lòng bàn tay trái ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy của B vừa mua để sử dụng cho bản thân, tổ công tác đã niêm phong vào phong bì dán kín trên mép dán có chữ ký của B và hai người chứng kiến. Sau đó tổ công tác yêu cầu B và mời hai người chứng kiến về trụ sở Công an phường P để kiểm tra người B. Qua kiểm tra tổ công tác không thu giữ gì thêm. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định.

Bản kết luận giám định số 327/KL-KTHS ngày 09/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật quản lý của Nguyễn Thế B gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1260 gam (không phẩy một nghìn hai trăm sáu mươi gam).

Bản Cáo trạng số 106/CT-VKSTPTB ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Nguyễn Thế B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thế B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thế B mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì bên ngoài ghi số 327/KL-KTHS.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Nguyễn Thế B nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thế B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 08/3/2023, tại khu vực đường N, tổ 02, phường P, thành phố T, tỉnh T, Nguyễn Thế B đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1260 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

Hành vi của Nguyễn Thế B là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ma túy là loại chất gây nghiện gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc của bao gia đình và còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, có nhân thân xấu, có 01 tiền sự, bị cáo có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thế B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, có mẹ đẻ được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có công việc ổn định do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Thế B còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Nguyễn Thế B khai mua tại khu vực ngã tư P thuộc tổ 01, phường P, thành phố T của một người nam giới khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 08/3/2023).

3.Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Thế B hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì, bên ngoài ghi số 327/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

(Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/6/2023).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thế B phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ