vanban.org

Bản án 107/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cao T1 Của phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Cao T1 Của 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2022. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái áo thun dài tay màu trắng và 01 (một) cái quần Jean màu nâu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Thành C - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao T1 Của phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2023/HS-ST
Ngày: 08/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Lê Anh .

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Lệ Thu;

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Hoàng Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Trần Duy An - Kiểm sát viên

Trong ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2023/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao Thành C, sinh năm 1993 tại Tiền Giang; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 122/27/56/5/14 T, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Cao Văn T và bà Nguyễn Thị Đ; bị cáo có vợ và 02 người con (lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015); tiền án: không; tiền sự: Quyết định số 229/QĐ-TA ngày 05/7/2021 của Tòa án nhân dân Quận 4 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 08/8/2022; nhân thân: Bản án số 80/2016/HSST ngày 24/3/2016 của Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt C Của 02 năm 9 tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày 11/02/2018, đã đóng án phí; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2022 - Có mặt.

- Bị hại: Bà Vũ Thị N; sinh năm 1981; Địa chỉ: E đường số C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Cao Văn T, sinh năm: 1969; Địa chỉ: 1 T, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1970; Địa chỉ: E KTT B, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ ngày 14 tháng 12 năm 2022, bị cáo Cao Thành C điều khiển xe mô tô hiệu Vario màu đen mang biển số 59C1-689.79 lưu thông từ Quận D về Quận G tìm tài sản để cướp giật. Khi đến số E đường số A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo C nhìn thấy bị hại Vũ Thị N đang đi bộ, đang sử dụng Iphone 13 Promax trên tay nên bị cáo C điều khiển xe áp sát, giật điện thoại của bà N rồi tăng ga tẩu thoát về nhà tại địa chỉ 1 T, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo C dùng điện thoại Iphone 7 Plus của mình để liên hệ với một người tên L (chưa rõ nhân thân lai lịch) qua Zalo tên là “Ngo Phuc” để bán chiếc điện thoại vừa cướp giật. Đến 23 giờ 50 phút cùng ngày, bị cáo C điều khiển xe mô tô hiệu Dream, biển số 51Z5-5199 đến quán Ố để gặp L. Tại đây, L kêu C đi ra chỗ khác tắt nguồn rồi quay lại L sẽ mua. Bị cáo C điều khiển xe đi cách quán Ốc khoảng 30m thì bị Công an Q đang đi tuần tra phát hiện nghi vấn nên mời Của về Công an P, Quận D làm việc. Bị cáo C đã khai nhận hành vi cướp giật tài sản của mình trên địa bàn Quận G. Công an Q bàn giao bị cáo C cùng tang vật đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G để xử lý theo thẩm quyền.

Theo Kết luận định giá tài sản số: 524/KL-HĐĐGTTHS ngày 29/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy Ban nhân dân Quận G1: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh 128Gb, đã qua sử dụng có giá trị tài sản là 18.500.000 (Mười tám triệu năm trăm nghìn) đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh, là tài sản của bị hại bà Vũ Thị N bị C Của bị chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an G đã trả lại cho bà Vũ Thị N.

- 01 xe Vario màu đen biển số 59C1-680.79, số máy: KF11E1612660; số khung: MH1KF1117GK615576, là chiếc xe do ông Cao Văn T đứng tên làm chủ sở hữu.

- 01 xe Dream mang biển số 51Z5-5199, là chiếc xe của bà Nguyễn Thị Đ đứng tên làm chủ sở hữu.

- 01 cái điện thoại Iphone 7 Plus màu xám là điện thoại bị cáo C.

- 01 cái áo thun dài tay màu trắng và 01 cái quần Jean màu nâu của bị cáo C.

Về dân sự: Người bị hại là bà Vũ Thị N đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm.

Tại Bản cáo trạng số: 90/CT-VKSQ7 ngày 24/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Cao Thành C về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Cao Thành C từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản, quá trình điều tra không có yêu cầu gì, tại phiên tòa vắng mặt nên không xét.

Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của mình phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt ở trên, không tự bào chữa, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an G, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa kết hợp các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ xét có đủ cơ sở để kết luận:

Vào lúc 19 giờ ngày 14/12/2022, tại địa chỉ số E đường số A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Cao Thành C đã thực hiện hành vi sử dụng xe máy, nhanh chóng bất ngờ cướp giật chiếm đoạt 01 điện thoại hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh của bà Vũ Thị N. Tài sản bị chiếm đoạt có tổng giá trị 18.500.000 đồng. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, táo bạo và liều lĩnh. Bị cáo phạm tội là do tham lam tư lợi để có tiền tiêu xài. Hành vi này là rất nghiêm trọng, nguy hiểm vì đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản sở hữu hợp pháp của công dân, gây hoang mang về mặt tinh thần cho người bị hại, gây mất trật tự trị an, an toàn giao thông đường bộ. Hành vi vừa điều khiển xe máy vừa cướp giật tài sản của người khác, sau đó nhanh chóng tẩu thoát khỏi sự truy đuổi là thủ đoạn phạm tội nguy hiểm có khả năng gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bằng biện pháp hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có 01 tiền sự, theo Quyết định số 229/QĐ-TA ngày 05/7/2021 của Tòa án nhân dân Quận 4 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 08/8/2022. Ngoài ra bị cáo còn có nhân thân xấu: Bản án số 80/2016/HSST ngày 24/3/2016 của Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt C Của 02 năm 9 tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày 11/02/2018, đã đóng án phí.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Cao Thành C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xử lý vật chứng vụ án:

- 01 (một) chiếc điện thoại hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh là tài sản bị cáo Cao T1 Của chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an G trả lại cho bà Vũ Thị N là có căn cứ nên không xét.

- 01 xe Vario màu đen biển số 59C1-680.79, số máy: KF11E1612660; số khung: MH1KF1117GK615576, là chiếc xe do ông Cao Văn T đứng tên làm chủ sở hữu. Ông T trình bày, ông để chiếc xe trên trong nhà, bị cáo (là con của ông T) tự lấy chiếc xe trên đi thực hiện hành vi phạm tội, ông không biết. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho ông Cao Văn T.

- 01 xe Dream mang biển số 51Z5-5199, số máy: HA05E-0177905, số khung: RLHHA0608WY1777865 do bà Nguyễn Thị Đ đứng tên làm chủ sở hữu, bà Đ khai là đã cho chiếc xe trên cho ông Cao Văn T. Ông T trình bày, ông để chiếc xe trên trong nhà, bị cáo (là con của ông T) tự lấy chiếc xe trên đi thực hiện hành vi phạm tội, ông không biết. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho ông Cao Văn T.

- 01 cái điện thoại Iphone 7 Plus màu xám là điện thoại bị cáo C. Bị cáo sử dụng chiếc điện thoại trên để liên lạc với người mua điện thoại nhằm mục đích bán tài sản do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- 01 cái áo thun dài tay màu trắng và 01 cái quần Jean màu nâu là trang phục bị cáo mặc khi đi cướp giật, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về phần trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị N đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Cao T1 Của phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Cao T1 Của 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2022.

2. Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái áo thun dài tay màu trắng và 01 (một) cái quần Jean màu nâu.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) cái điện thoại Iphone 7 Plus

màu xám.

- Trả lại cho ông Cao Văn T: 01 xe Vario màu đen biển số 59C1-680.79, số máy: KF11E1612660; số khung: MH1KF1117GK615576 và 01 xe Dream biển số 51Z5-5199, số máy: HA05E-0177905, số khung: RLHHA0608WY1777865.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 100 ngày 12/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7).

3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án bị cáo và ông Cao Văn T được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ