- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tiếp tục đăng tin tìm chủ sở hữu xe gắn máy hiệu Win, biển số: 37X2 – 8825, số khung: RNDWCH0ND61Y03543, số máy: VDGZS152FMH-WM*00003543* trong thời hạn 06 (sáu) tháng, nếu tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại, không tìm được thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2023/HS-ST Ngày: 30/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt;
2. Bà Lê Thị Kim Lệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thụy Uyên Vy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Sinh - Kiểm sát viên
Ngày 30/11/2023 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Tạ Văn C; Tên gọi khác: T; Sinh ngày 15 tháng 4 năm: 1974; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C Đ, Phường A, Quận D, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công Giáo; Con ông Tạ Văn T1 – đã chết và bà Trần Thị L – đã chết; Vợ, con: Không có; Anh, chị, em ruột: Có 09 người, lớn nhất sinh năm 1957, nhỏ nhất sinh năm 1970; Tiền sự: Không; Tiền án: Năm 2006, Tòa án nhân dân Quận 1, xử phạt 05 năm 06 tháng tù, về tội: “Cướp Giật tài sản”(Bản án số: 55/2006/HSST ngày 01/3/2006). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/05/2010 (thời hạn xóa án tích là 03 năm). Ngày 29/3/2011, bị cáo phạm tội mới, ngày 25/8/2011, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 34/2011/HSST ngày 25/8/2011). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/9/2015 (ngày 29/9/2018 bị can mới được xóa án tích); Nhân thân: Năm 1994, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xử phạt 06 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”; Năm 1995, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 12 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”; Năm 1999, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 30 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”; Năm 2002, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”; Năm 2019, Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Năm 2023, Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/7/2023 ở Trại giam T5, đến ngày 13/9/2023 trích xuất về tạm giam trại Trại tạm giam Chí H đến nay. (có mặt)
Bị hại: Ông Diệp Bảo LongSinh ngày: 15/6/1964 (vắng mặt)
Địa chỉ: 07.06 Block B2 chung cư G, 8 T, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Phạm Văn T2 năm: 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm K, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An
Người bào chữa cho bị cáo Tạ Văn C: Ông Trần Văn N, luật sư của Trung tâm T6 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; Địa chỉ: F N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 29/7/2018, Tạ Văn C điều khiển xe gắn máy hiệu Win, biển số: 37X2 – 8825 đi lòng vòng trong khu vực Quận D, tìm tài sản để trộm cắp. Tạ Văn C điều khiển xe đi đến chung cư K, Phường A, Quận D, nhìn thấy có nhiều xe ôtô đậu bên trong, không có người trông coi, nên nãy sinh ý định trộm cắp tròng gương chiếu hậu. Chương dựng xe ngoài cổng của chung cư, đi bộ vào bên trong, nhìn thấy xe ôtô hiệu Audi Q5, màu trắng, biển số: 51G – 045.41 của anh Diệp Bảo L1 có giá trị cao, nên đã dùng tay luồn vào khe hở cửa gương chiếu hậu bên phải giật mạnh làm tròng gương rớt ra ngoài. C lấy tròng gương giấu vào bên trong áo phía trước bụng, đi ra cổng lấy xe gắn máy chạy đi. Khi C điều khiển xe gắn máy trên đường B, Phường A, Quận D, thì bị Công an P, Quận D, phát hiện kiểm tra đưa về trụ sở Công an P, Quận D, lập hồ sơ xử lý (Bl: 30).
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, Tạ Văn C khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên (Bl: 66 đến 69, 113 đến 120).
Tại kết luận định giá số: 128/Kl – HĐĐG ngày 11/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận D, kết luận (Bl: 53): 01 tròng kính chiếu hậu mặt kính có chữ Object in mirror are close than they appear, đã qua sử dụng có giá trị là: 21.212.400 đồng.
Vật chứng vụ án: 01 (một) tròng gương của kính chiếu hậu xe ô tô, trên mặt kính có chữ OBJECT IN MIROR ARE CLOSER THAN THEY APPEAR, đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho người bị hại
Tạm giữ của bị cáo: 01 xe gắn máy hiệu Win, biển số: 37X2 – 8825, số khung: RNDWCH0ND61Y03543, số máy: VDGZS152FMH-WM*00003543*. Qua xác minh do Phạm Văn T3 (nơi cư trú: Xóm K, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An) đứng tên sở hữu. Tạ Văn C khai nhận mua lại xe này của anh Trương T4 (nơi cư trú: 587 tổ B, khu phố F, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai), chưa sang tên.
Tang vật nêu trên, Viện kiểm sát có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự Quận 4 chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 11/10/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho D Bảo Long 01 tròng kính chiếu hậu mặt kính có chữ Object in mirror are close than they appear. Diệp Bảo L1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác (Bl: 79, 80, 109).
Tại Bản cáo trạng số 114/CT-VKSQ4 ngày 02/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đã truy tố bị cáo Tạ Văn C về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 trình bày lời luận tội: Cáo trạng số 114/CT-VKSQ4 ngày 02/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo Tạ Văn C về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Tạ Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù;
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Tạ Văn C
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước xe gắn máy hiệu Win, biển số: 37X2 – 8825, số khung: RNDWCH0ND61Y03543, số máy: VDGZS152FMH-WM*00003543*.
Phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận
Luật sư Trần Văn N thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ theo Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 do bị cáo bị liệt hai chân, cần người chăm sóc. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt để sớm về chăm lo cho chị đang bị bệnh tiểu đường, hòa nhập xã hội, phát triển nghề nghiệp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Q, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận D, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ, xét đã có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 29/7/2018, Tạ Văn C điều khiển xe gắn máy hiệu Win, biển số: 37X2 – 8825 đi lòng vòng trong khu vực Quận D, tìm tài sản để trộm cắp. Tạ Văn C điều khiển xe đi đến chung cư K, Phường A, Quận D, nhìn thấy có nhiều xe ôtô đậu bên trong, không có người trông coi, nên nãy sinh ý định trộm cắp tròng gương chiếu hậu. Chương dựng xe ngoài cổng của chung cư, đi bộ vào bên trong, nhìn thấy xe ôtô hiệu Audi Q5, màu trắng, biển số: 51G – 045.41 của anh Diệp Bảo L1 có giá trị cao, nên đã dùng tay luồn vào khe hở cửa gương chiếu hậu bên phải giật mạnh làm tròng gương rớt ra ngoài. C lấy tròng gương giấu vào bên trong áo phía trước bụng, đi ra cổng lấy xe gắn máy chạy đi.
Tại kết luận định giá số: 128/Kl – HĐĐG ngày 11/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận D, kết luận (Bl: 53): 01 tròng kính chiếu hậu mặt kính có chữ Object in mirror are close than they appear, đã qua sử dụng có giá trị là: 21.212.400 đồng.
Hành vi của Tạ Văn C cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
Bị cáo phạm tội do tham lam tư lợi, lười nhác lao động. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Căn cứ vào nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt cho tương xứng với tính chất vụ án mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2006, Tòa án nhân dân Quận 1, xử phạt 05 năm 06 tháng tù, về tội: “Cướp Giật tài sản”(Bản án số: 55/2006/HSST ngày 01/3/2006). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/05/2010 (thời hạn xóa án tích là 03 năm). Ngày 29/3/2011, bị cáo phạm tội mới, ngày 25/8/2011, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 34/2011/HSST ngày 25/8/2011). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/9/2015 (ngày 29/9/2018 bị can mới được xóa án tích). Ngày 29/7/2018, bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Vì vậy, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ngoài ra bị cáo còn có nhân thân xấu: Năm 1994, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xử phạt 06 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”; Năm 1995, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 12 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”; Năm 1999, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 30 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”; Năm 2002, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”; Năm 2019, Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Năm 2023, Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 11/10/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho D Bảo Long 01 tròng kính chiếu hậu mặt kính có chữ Object in mirror are close than they appear. Diệp Bảo L1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác, tại phiên tòa hôm nay ông L1 vắng mặt nên Tòa án không xem xét.
Xử lý vật chứng vụ án:
Tiếp tục đăng tin tìm chủ sở hữu xe gắn máy hiệu Win, biển số: 37X2 – 8825, số khung: RNDWCH0ND61Y03543, số máy: VDGZS152FMH-WM*00003543* trong thời hạn 06 (sáu) tháng, nếu tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại, không tìm được thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Tạ Văn C 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2023 (ngày bị cáo chấp hành xong án phạt tù theo Bản án số 47/2023/HS-ST ngày 21/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận 7).
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
Tiếp tục đăng tin tìm chủ sở hữu xe gắn máy hiệu Win, biển số: 37X2 – 8825, số khung: RNDWCH0ND61Y03543, số máy: VDGZS152FMH-WM*00003543* trong thời hạn 06 (sáu) tháng, nếu tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại, không tìm được thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 07/2024 ngày 02/11/2023 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 4)
Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN
- CA TP.HCM (PV 06);
TÒA
- TAND TP.HCM;
- Sở Tư pháp TP.HCM;
- VKSND Quận 4;
- Công an Quận 4;
- Chi cục THADS Quận 4;
- Lưu VT, hồ sơ.
Đỗ Thị Bích Phượng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Đông Nguyệt Lê Thị Kim Lệ
Đỗ Thị Bích Phượng
| Nơi nhận - Bị cáo; - CA TP.HCM (PV 06); - TAND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - VKSND Quận 4; - Công an Quận 4; - Chi cục THADS Quận 4; - Lưu VT, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Bích Phượng |