vanban.org

Bản án 107/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 30/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tống Minh T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 501/2022/HSST ngày 16/11/2022 của tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Tuyên bố bị cáo Tống Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Tống Minh T: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tống Minh T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 501/2022/HSST ngày 16/11/2022 của tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2023/HS-PT
Ngày: 30/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong

Các thẩm phán: Bà Võ Thị Thanh Phượng

Ông Nguyễn Trung Hưng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Đức - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 466/2022/TLPT-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo Tống Minh T.

Do có kháng cáo của bị cáo T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 501/2022/HSST ngày 16/11/2022 của tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 60/2023/QĐXXPT-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2023/HS-QĐ ngày 13/3/2023, Thông báo dời lịch số 87/2023/TB-TA ngày 28/3/2023;

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Tống Minh T, sinh năm 1993 tại Ninh Bình; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: số 27/34, khu 7, phường PT, thành phố TDM, tỉnh BD; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Tuấn Xuân L và bà Tống Thị Đ. Bị cáo có vợ là Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1992; có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại.

- Ngoài ra còn có bị hại nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tống Minh T là người được anh Vũ Văn K, sinh năm 1992 thuê làm phụ xe cho anh K. Để có tiền sử dụng vào việc đánh bạc thông qua mạng internet, Tống Minh T đã có hành vi chuyển trộm 95.000.000đ (Chín mươi lăm triệu đồng) trong tài khoản ngân hàng của anh K đến tài khoản ngân hàng của T rồi sử dụng 85.000.000đ (Tám mươi lăm triệu đồng) tiền trộm được vào ciệc đánh bạc, cụ thể:

Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 24/07/2021 anh K và anh T đang sửa xe tại bãi xe Sao Mai, thuộc đường số 9, phường An Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, thì anh K đưa cho anh T một thẻ ATM do anh K đứng tên chủ tài khoản, có số tài khoản 5990205816830 do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thônphát hành (Ngân hàng Agribank) có mật khẩu “101991” rồi nhờ T đến máy rút tiền tự động (máy ATM) tại ngân hàng Agribank chi nhánh Bắc Đồng Nai, thuộc khu phố 2, phường BĐ, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai để rút cho anh K số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) để trả tiền sửa xe. T đồng ý, sau khi rút 3.000.000đ (Ba triệu đồng) cho anh K, T phát hiện trong tài khoản anh K có nhiều tiền nên T nảy sinh ý định lấy trộm tiền từ tài khoản của anh K để sử dụng đánh bạc thông qua mạng internet, thực hiện ý định trên T đã nhiều lần chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng do anh K đến tài khoản của T, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 15 giờ 19 phút ngày 24/7/2021 T thao tác trên máy ATM chuyển số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) từ tài khoản ngân hàng Agribank của anh K sang tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (Ngân hàng BIDV) số tài khoản 48810000163218 của T, sau khi tài khoản của T nhận được tiền, T thao tác trên điện thoại di động thông qua ứng dụng Smart banking chuyển số tiền này cho một người có tài khoản ngân hàng BIDV số 62510004253828 do Nguyễn Nhật Trường đứng tên chủ tài khoản mua điểm sử dụng để đánh bạc bằng hình thức chơi “Tài-Xỉu” thông qua ứng dụng G88- Global Game Portal (G88) trên điện thoại di động với tên tài khoản đăng nhập “concainit2019” mật khẩu “150993” và đã thua hết.

Cách thức chơi “Tài-Xỉu” trong ứng dụng G88:

Ứng dụng G88 được cài đặt trên điện thoại di dộng, sau đó người chơi đăng ký tài khaorn, sau khi đăng ký tài khoản tahnfh công, đăng nhập vào ứng dụng sẽ có thông tin các đại lý hỗ trợ nhận đổi tiền thành điểm để sử dụng trong ứng dụng. Trong ứng dụng có nhiều loại hình chơi khác nhau, đối với “Tài-Xỉu” người chơi sẽ chọn vào biểu tượng “Tài-Xỉu” để chơi, khi chơi người chơi có hai lựa chọn, chọn “Tài” hoặc “Xỉu” sau khi chọn xong máy sẽ tự động lắc 03 hạt “xí ngầu” nếu số điểm trên 03 hạt “xí ngầu” từ 11 điểm trở lên là “Tài” từ 10 điểm trở xuống là “Xỉu” nếu chọn đúng sẽ thắng, ngược lại chọn sai thua hết số điểm đã cược. Khi người chơi có nhu cầu đổi điểm thành tiền, người chơi chọn vào mục rút tiền sẽ có nhân viên hỗ trợ chuyển số điểm muốn rút thành tiền rồi chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng do người chơi chỉ định.

Lần 2: Sau khi thua hết 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), khoảng 16 giờ 02 phút ngày 24/7/2021 T tiếp tục chuyển số tiền 75.000.000đ ( Bảy mươi lăm triệu đồng) từ tài khoản ngân hàng của anh K sang tài khoản ngân hàng BIDV của T, sau khi tài khoản của T nhận được tiền, T thao tác trên điện thoại di động thông qua ứng dụng Smart banking chuyển số tiền 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu đồng) đến tài khoản ngân hàng BIDV số 62510004253828 do Nguyễn Nhật Trường đứng tên chủ tài khoản và tài khoản ngân hàng BIDV số 12210002257916 do Ngô Quang Khánh đứng tên chủ tài khaonr để mua điểm đánh bạc bằng hình thứ chơi Tài-Xỉu trên ứng dugnj G88, thua hết số tiền 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu đồng). Tiếp đến T không đánh bạc trên wusng dụng G88 nữa mà chuyển sang đánh bạc trên website Fb88you.com, tên đăng nhập “minhtien616” mật khẩu “tien919616”. T thao tác trên điện thoại di động thông qua ứng dụng Smart banking chuyển số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) từ tài khaorn của T đến tài khoản ngân hàng BIDV số 31510001218411 do Nguyễn Thị Thảo đứng tên chủ tài khoản mua điểm để đánh bạc trên website Fb88you.com bằng hình thức chơi”E Tài-Xỉu” và “E Roulette” thua hết 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

Cách chơi “E Tài-Xỉu” và “E Roulette” trên website Fb88you.com:

Người chơi đăng ký tài khoản trên website, đăng nhập sẽ có thông tin các ngân hàng để chuyển tiền đổi thành điểm sử dụng để đánh bạc trên các website. Trong website có nhiều loại hình chơi khác nhau:

Đối với “E Tài-Xỉu” người chơi sẽ chọn vào biểu tượng “E Tài-Xỉu” để chơi, khi chơi người chơi có hai lựa chọn, chọn “Lớn” hoặc “Nhỏ” sau khi chọn xong máy sẽ tự động lắc 03 hạt “xí ngầu” nếu số điểm trên 03 hạt “xí ngầu” từ 11-17 điểm là “Lớn” từ 04-10 điểm là “Nhỏ” nếu chọn đúng sẽ thắng, ngược lại chọn sai thua hết số điểm đã cược.

Đối với “E Roulette” người chơi sẽ chọn vào biểu tượng “E Roulette” để chơi, khi đó trên màn hình sẽ hiển thị một chiếc bàn tròn với 36 ô số được đánh số thứ tự từ 01 đến 36, một nửa ô số là màu đen, một nửa là màu đỏ. Khi chơi người chơi có thể lựa chọn “Đỏ” hoặc “Đen” sua khi chọn xong máy sẽ khởi động bàn xoay cho viên bi chạy vòng quoanh bàn, khi bàn quay dừng lại, viên bi ở vị trí ô màu nào thì người đã đtặ màu đó thắng và ngược lại người đặt sai màu thua hết số điểm đã cược. Khi người chơi có nhu cầu đổi điểm thành tiền, người chơi chọn vào mục rút tiền nhập số điểm cần rút hệ thống sẽ quỹ đổi thành tiền rồi chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng người chơi đã đăng ký.

Anh Vũ Văn K sau khi đưa thẻ ATM cho T đi rứt tiền giúp, thấy điện thoại liên tục báo số tài khoản bị chuyển tiền nhiều lần nên anh K đi tìm thì gặp T tại khu vực ngã tư Bồn nước thuộc phường An Bình, thành phố biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, T thừa nhận đã lén chuyển số tiền 95.000.000đ (Chín mươi lăm triệu đồng) từ tài khaorn ngân hàng của anh K sang tài khaorn của T. Anh K đã đưa T đến công an phường Bình Đa trình báo. Công an phường lập hồ sơ chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng vụ án bao gồm:

- 01 (một) thẻ ATM có số tài khoản 5990205816830 của anh Vũ Văn K do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Ngân hàng Agribank) phát hành, anh K đưa cho T nhờ T đi rút tiền, T đã trả lại cho anh K.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 8 là tài sản của T. teiesn sử dụng để đánh bạc qua internet.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 là tài sản của T, T không sử dụng vào việc phạm tội Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã trả lại cho T.

Về dân sự: Người bị hại anh Vũ Văn K đã nhận lại số tiền 95.000.000đ (Chín mươi lăm triệu đồng) không yêu cầu bồi thường thêm.

Tại bản Cáo trạng số 384/CT-VKSBH ngày 15/8/2022, Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Tống Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173; “Đánh bạc” theo điểm b,c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 501/2022/HS-ST ngày 16/11/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Tống Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Tống Minh T: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Tống Minh T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Tống Minh T: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tổng hình phạt của hai tội. Buộc bị cáo Tống Minh T chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo vào trại giam thi hành án.

+ Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 8 là tài sản của T. T sử dụng để đánh bạc qua mạng internet theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

- Ngày 18/11/2022 bị cáo có nộp đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Về thời hạn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa là phù hợp với tính chấp, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo giao nộp bằng tổ quốc ghi

công đối với ông ngoại của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định, tài liệu chứng cứ này bị cáo đã giao nộp tại cấp sơ thẩm.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Tống Minh T làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Xét kháng cáo của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Tống Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 và tội “Đánh bạc” theo điểm b,c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Các hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, có đầy đủ khả năng nhận thức pháp luật. Biết hành vi trộm cắp tài sản và hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện là thể hiện sự coi thường và bất chấp pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt và cũng để răn đe và phòng ngừa chung.

Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp thông tin ông ngoại bị cáo là cụ Tống Văn Ngận là liệt sĩ và trình bày hiện đang nuôi con nhỏ, gia đình khó khăn. Tuy nhiên, các tình tiết này bị cáo đã cung cấp và được xem xét tại cấp sơ thẩm, đồng thời hành vi của bị cáo ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền sở hữu tài sản của người khác và việc ảnh hưởng đến việc quản lý, quy định, việc phòng chống tội phạm về đánh bạc. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm cũng đã căn cứ những tình tiết giảm nhẹ để tuyên mức hình phạt cho bị cáo theo đúng quy định, không nặng như trong kháng cáo của bị cáo đã nêu. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tống Minh T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 501/2022/HSST ngày 16/11/2022 của tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Tống Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Tống Minh T: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Tống Minh T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Tống Minh T: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tổng hình phạt của hai tội. Buộc bị cáo Tống Minh T chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo vào trại giam thi hành án.

Bị cáo Tống Minh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Phượng

Nguyễn Trung Hưng

Trần Thanh Phong

Cỡ chữ