vanban.org

Bản án 107/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, 14, 15, 16, 53, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ giữa chị Thái Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn T là vợ chồng. Về con chung: không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thái Thị Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, 14, 15, 16, 53, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CÁI RĂNG
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2023/HNGĐ – ST
Ngày: 14 – 12 – 2023
V/v: “Không công nhận quan hệ
vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sang

Ông Lê Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Trương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, xét xử công khai vụ án thụ lý số 276/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/11/2023 về việc không công nhận quan hệ vợ chồng.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 484/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05/12/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Thái Thị Ngọc T, sinh năm: 1971

Địa chỉ: 34B9 khu vực 11, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1973

Địa chỉ: 16/3 khu vực 3, phường K, quận C, TP. Cần Thơ.

Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện chị Thái Thị Ngọc T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau có tổ chức đám cưới vào năm 2000 nhưng không đăng ký kết hôn. Đến năm 2014 thì hai người sống ly thân. Trong quá trình chung sống hai bên thường xuyên cự cải do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Hiện tại cả hai không còn tình cảm nữa. Chị T yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với anh T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống cả hai không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T khai nhận: anh và chị Thái Thị Ngọc T chung sống với nhau từ năm 2000 và không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu anh và chị T chung sống với nhau rất hạnh phúc. Đến năm 2014 cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Hiện tại cả hai không còn tình cảm với nhau, anh T đồng ý với yêu cầu của chị T.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa: Các đương sự có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng: Chị Thái Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn T chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn. Nay chị T có yêu cầu không công nhận chị với anh T là vợ chồng. Anh Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại 16/3 khu vực 3, phường K, quận C, TP. Cần Thơ. Quan hệ này do Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thụ lý theo khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

Về hôn nhân: Chị Thái Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn T chung sống với nhau như vợ chồng có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống cả hai dần phát sinh mâu thuẫn, không còn tiếng nói chung. Hiện tại cả hai không còn tình cảm với nhau. Chị T yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với anh T. Xét thấy, chị T, anh T chung sống với nhau không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Quan hệ giữa anh, chị không được xem là hôn nhân hợp pháp. Hiện tại cả hai không còn tình cảm với nhau nên yêu cầu của chị T về việc không công nhận quan hệ vợ chồng với anh T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống cả hai không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: anh, chị xác định không có.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, 14, 15, 16, 53, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ giữa chị Thái Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn T là vợ chồng.

- Về con chung: không có.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh, chị xác định không có.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Thái Thị Ngọc T phải nộp 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0003018 ngày 31/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ