vanban.org

Bản án 107/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Mai Thị Thu Tr và anh Lê Văn D.

Về con chung: Giao cho chị Mai Thị Thu Trtiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con Lê Bách Khoa, sinh ngày 29/12/2018. Anh Lê Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án xem x… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Mai Thị Thu Tr và anh Lê Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRUỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2023/HNGĐ-ST
Ngày:21-8-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly
hôn giữa chị T và anh D

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồng Minh;

Ông Trần Đình Phấn.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Cúc -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Tự - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 53/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/5/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/7/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/8/2023 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Mai Thị Thu T, sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu: Xóm 13, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Hiện ở; Khu 4, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ; vắng mặt; chị T có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Văn D, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm 13, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai quá trình giải quyết nguyên đơn chị Mai Thị Thu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn D tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện , tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn vào ngày 07/12/2018. Sau khi lấy nhau vợ chồng ở cùng với bố mẹ của anh Duy. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mẫu thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có sự chia sẻ trong cuộc sống. Khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra gia đình đã động viên khuyên giải nhằm hàn gắn hạnh phúc vợ chồng xong không có kết quả, mẫu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng trầm trọng. Từ tháng 6 năm 2022 đến nay vợ chồng đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, hạnh phúc đã tan vỡ nên nguyện vọng của chị là được xin ly hôn anh Lê Văn D

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Bách Khoa, sinh ngày 29/12/2018; hiện con đang ở với chị. Khi ly hôn chị xin nhận nuôi con và không yêu cầu anh Duy phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh , anh D không có mặt ở nhà Tòa án đã làm thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng nhưng rồi anh không đến Tòa án để làm việc, không gửi các văn bản cho Tòa án về ý kiến của chị T xin ly hôn.

Kết quả thu thập chứng cứ tại UBND xã Xuân Ph

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị Thu Tr và anh Lê Văn D tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân, đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn vào ngày 07/12/2018. Anh D và chị T đều có hộ khẩu tại xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Chị T và anh D mâu thuẫn là do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm. Chị và anh D một năm nay không chung sống với nhau, bản thân anh lần này ly hôn là lần thứ ba. Do anh D không có mặt ở nhà, Tòa án làm thủ tục niêm yết công khai tại cơ sở và UBND xã X. Anh D đi làm ăn nhưng vẫn thường xuyên đi về nhà khi có công việc. Qua lời trình bày của chị cũng như căn cứ vào thực trạng hôn nhân giữa chị T và anh D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh D.

* Về con chung: Chị T và anh Dcó 01 con chung là Lê Bách K, sinh ngày 29/12/2018; hiện con đang ở với chị T. Khi ly hôn chị T xin nhận nuôi con, không yêu cầu anh phải cấp dưỡng nuôi con, địa phương thấy quan điểm của chị Trang là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của các đương sự, đề nghị Tòa án nên giao con cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản: Chị Tr và anh D không có tài sản chung tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử , các đương sự tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án đ ảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật.

Nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử ly hôn giữa chị Mai Thị Thu T và anh Lê Văn D.

Về con chung: Giao cho chị Mai Thị Thu Trang tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con Lê Bách Khoa, sinh ngày 29/12/2018. Anh Lê Văn Duy không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án xem xét là phù hợp.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị Thu T và anh Lê Văn D kết hôn hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, nay chị T có đơn xin ly hôn anh Lê Văn D anh không có măt tại ở địa phương Tòa án đã làm thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng nhưng anh D không đến Tòa án để làm việc không gửi ý kiến của mình bằng văn bản cho Tòa án về việc chị Trang xin ly hôn. Điều đó chứng tỏ anh D không thiết tha mặc mà với cuộc sống chung vợ chồng. Xét thấy, mẫu thuẫn giữa chị Tr và anh D là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nay chị T xin ly hôn anh D là phù hợp với thực tế và pháp luật nên HĐXX chấp nhận xử ly hôn giữa chị Tvà chị D theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Tr và D có 1 con chung là Lê Bách K, sinh ngày 29/12/2018. Nay ly hôn chị Tr xin nhận nuôi con và không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng. Xét chị Trang xin nhận nuôi con là phù hợp cũng như ghị nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX sẽ giao cho chị T tiếp tục nuôi con theo quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản; Chị T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết là phù hợp.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Mai Thị Thu Tr và anh Lê Văn D.

2. Về con chung: Giao cho chị Mai Thị Thu Trtiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con Lê Bách Khoa, sinh ngày 29/12/2018. Anh Lê Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Mai Thị Thu T phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0003223 ngày 17/5/2023 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; chị Mai Thị Thu T đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ