vanban.org

Bản án 107/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tấn H và chị Nguyễn Thị Thùy Tr thuận tình ly hôn.

[2] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tấn Th, sinh năm 2012 và cháu Nguyễn Tấn Ph, sinh năm 2021 cho chị Nguyễn Thị Thùy Tr chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh Nguyễn Tấn H cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đ/tháng/2 con. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con được chấm dứt theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân gia … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tấn H và chị Nguyễn Thị Thùy Tr thuận tình ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 28/7/2023.
V/v:“Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Sỹ Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngẫu.

Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 317/2023/TLST-HNGĐ ngày 05/5/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2023/QĐXX-ST ngày 13/7/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tấn H, sinh năm 1986 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường C, thị xã Phú Mỹ, Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy Tr, sinh năm 1988 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã T, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn anh Nguyễn Tấn H trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Tr tự nguyện kết hôn với nhau năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Tân Thành (nay là phường C, thị xã Phú Mỹ) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn do tính cách hai người không hợp nhau, giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau. Mặc dù cả hai đã tự hòa giải đoàn tụ nhưng không được. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thùy Tr.

+ Về con chung: Có 02 con là cháu Nguyễn Tấn Th, sinh năm 2012 và cháu Nguyễn Tấn Ph, sinh năm 2021. Sau khi ly hôn anh đề nghị giao 02 con chung cho chị Tr chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh cấp dưỡng nuôi con 4.000.000đ/tháng/2 con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn chị Nguyễn Thị Thùy Tr trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh H tự nguyện kết hôn với nhau năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Tân Thành (nay là phường C, thị xã Phú Mỹ) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn do tính cách hai người không hợp nhau, giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau. Mặc dù cả hai đã tự hòa giải đoàn tụ nhưng không được. Nay anh H đề nghị Tòa án được ly hôn với chị thì chị đồng ý.

+ Về con chung: Có 02 con là cháu Nguyễn Tấn Th, sinh năm 2012 và cháu Nguyễn Tấn Ph, sinh năm 2021. Sau khi ly hôn chị đề nghị giao 02 con chung cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chị yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đ/tháng/2 con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được đảm bảo và các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ. Phiên tòa được thực hiện dân chủ, bình đẳng. Về nội dung vụ án: Anh Nguyễn Tấn H và chị Nguyễn Thị Thùy Tr sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, nay anh H xin ly hôn đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H. Về con chung đề nghị giao con chung cho chị Tr chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Theo anh H trình bày hiện nay mức thu nhập của anh khoảng 16.000.000đ/tháng nên chị Trang yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đ/tháng/2 con là phù hợp nên đề nghị chấp nhận. Về tài sản chung, nợ chung các đương sự trình bày tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tấn H với chị Nguyễn Thị Thùy Tr kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân UBND xã B, huyện Tân Thành (nay là phường C, thị xã Phú Mỹ) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh H, chị Tr trình bày hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhiều vấn đề trong cuộc sống và không thể hàn gắn nên cả hai thấy tình cảm vợ chồng không còn. Xét thấy, hôn nhân giữa anh H, chị Tr lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho anh H và chị Tr ly hôn là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tấn Th, sinh năm 2012 và cháu Nguyễn Tấn Ph, sinh năm 2021 cho chị Nguyễn Thị Thùy Tr chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Tấn H trình bày sẽ cấp dưỡng nuôi con 4.000.000đ/tháng/2 con, chị Tr yêu cầu cấp dưỡng 5.000.000đ/tháng/2 con. Theo anh H trình bày, hiện nay mức thu nhập của anh khoảng 16.000.000đ/tháng nên chấp nhận yêu cầu của chị Tr, buộc anh cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đ/tháng/2 con là có cơ sở chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Nguyễn Tấn H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tại phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 86, Điều 87, Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tấn H và chị Nguyễn Thị Thùy Tr thuận tình ly hôn.

[2] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tấn Th, sinh năm 2012 và cháu Nguyễn Tấn Ph, sinh năm 2021 cho chị Nguyễn Thị Thùy Tr chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh Nguyễn Tấn H cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đ/tháng/2 con. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con được chấm dứt theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Kể từ ngày chị Nguyễn Thị Thùy Tr có đơn yêu cầu thi hành án về nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu anh Nguyễn Tấn H không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh tương ứng với thời gian và số tiền chậm cấp dưỡng. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Tấn H vẫn được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự trình bày tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Anh Nguyễn Tấn H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh H đã nộp theo biên lai thu số 0009375 ngày 26/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành được trừ vào tiền án phí phải nộp, anh H còn phải tiếp tục nộp 300.000đ.

Anh Nguyễn Tấn H, chị Nguyễn Thị Thùy Tr được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ