- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
- Căn cứ chính? luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN C HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2023/HN-ST Ngày: 10/8/2023 V/v: “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ – TP. CẦN THƠ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hậu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hữu Thọ
2. Bà Nguyễn Thị Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Mỹ Yên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Ngày 10 tháng 8 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 146/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023, về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 265/2023/QĐ ST- HNGĐ ngày 02/8/2023 , giữa các bên đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Phú A, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, TP ..
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phần trình bày của nguyên đơn ông Lê Phú A theo đơn khởi kiện, bản tự khai như sau:
Ông bà bà T tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/8/2018. Quá trình sống có hai người con chung tên Lê Nguyễn Thúy V (nữ), sinh ngày 08/10/2016 và Lê Trọng N (nam), sinh ngày 09/9/2021.
Ban đầu chung sống hạnh phúc nhưng về sau xảy ra mâu thuẫn. Bà T nhiều lần gây nợ để tiêu xài cá nhân. Ông thương vợ con nên đã cố gắng nhẫn nhịn lo trả nợ cho bà T. Về sau, bà T lại có mối quan hệ không rõ ràng với người khác thông qua tin nhắn điện thoại nhưng vì thương gia đình ông tiếp tục cho qua. Đến năm 2023, bà T tiếp tục gây nợ và sử dụng số tiền vay vào mục đích gì thì ông không hay biết. Nay, cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không còn tình cảm nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T.
Về con chung: Ông và bà T có hai người con chung Lê Nguyễn Thúy V (nữ), sinh ngày 08/10/2016 và Lê Trọng N (nam), sinh ngày 09/9/2021. Hiện tại hai người con chung đang ở cùng ông, ông trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu nên ông xin giành quyền tiếp tục nuôi con. Ông không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bà Nguyễn Thị Kim T đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ giấy triệu tập nhưng ông không đến Tòa tại phiên xét xử, ông Lê Phú A có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai, vắng mặt đương sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Lê Phú A và bà Nguyễn Thị Kim T có đăng ký kết hôn nên xác định hôn nhân hợp pháp thuộc ngành luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T có địa chỉ cư trú tại ấp D, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T vắng mặt không rõ lý do, nguyên đơn ông Lê Phú A có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông Lê Phú A, nhận thấy nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không cùng quan điểm sống, bà T nhiều lần gây nợ để tiêu xài cá nhân. Ông thương vợ con nên đã cố gắng nhẫn nhịn lo trả nợ cho bà T. Về sau, bà T lại có mối quan hệ không rõ ràng với người khác thông qua tin nhắn điện thoại nhưng vì thương gia đình ông tiếp tục cho qua. Đến năm 2023, bà T tiếp tục gây nợ và sử dụng số tiền vay vào mục đích gì thì ông không hay biết. Hội đồng xét xử nhận thấy, quan hệ hôn nhân là sự gắn kết giữa vợ chồng, phải có sự đồng thuận, tự nguyện từ hai phía, phải có tình yêu thương quan tâm và chăm sóc các thành viên trong gia đình. Xét thấy mâu thuẫn giữa ông A, bà T đã trầm trọng không thể vận động đoàn tụ do ông bà không còn sự yêu thương, tin tưởng nhau trong cuộc sống nên ông A yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Ông bà có hai người con chung là Lê Nguyễn Thúy V (nữ), sinh ngày 08/10/2016 và Lê Trọng N (nam), sinh ngày 09/9/2021. Nguyên đơn ông A xin giành quyền trực tiếp nuôi hai người con chung. Xét thấy, hiện tại hai người con chung đang sinh sống cùng ông A, việc ăn học của hai cháu cũng do trực tiếp ông A chăm lo. Hơn nữa, theo bản tự khai của cháu Lê Nguyễn Thúy V có nguyện vọng sinh sống cùng cha là ông A. Hội đồng xét xử xét thấy tiếp tục giao hai người con chung cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ông A không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của ông nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn bà T được quyền thăm nom, giáo dục con chung và không ai được quyền cản trở bị đơn thực hiện quyền này.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn xác định hiện tại không có nên không yêu cầu giải quyết. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên nên không xem xét giải quyết. Tách phần tài sản chung và nợ chung ra giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu và có đủ cơ sở chứng minh.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 232, Điều 238, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Phú A đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn ông Lê Phú A được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim T.
Về con chung: Giao con chung Lê Nguyễn Thúy V (nữ), sinh ngày 08/10/2016 và Lê Trọng N (nam), sinh ngày 09/9/2021 cho ông Lê Phú A trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con do nguyên đơn không yêu cầu.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho bà T không ai được quyền ngăn cản bà thực hiện quyền này.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết. Tách ra giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu và có đủ cơ sở chứng minh.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Lê Phú A phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí ông A đã nộp theo Biên lai thu số 0004509 ngày 19/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ thành án phí. Ông A đã nộp xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.Cần Thơ; - Viện kiểm sát ND H. Cờ Đỏ; - Chi cục THADS H. Cờ Đỏ; - Đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Võ Trung Hậu |