- Tranh chấp gì? án dân sự — "mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D liên đới nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 49.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2023/DS-ST Ngày 01-6-2023 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Vẹn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Trọn
Ông Lâm Ngọc Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.
Ngày 01 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2023/TLST-DS ngày 12/01/2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2023/QĐXXST- DS ngày 25 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).
Cư trú tại: Khóm A, thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Trần Quốc V, sinh năm 1966 (vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Cùng cư trú tại: Khóm D, thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 12 năm 2022 cùng các văn bản khác kèm theo và tại phiên tòa ông Nguyễn Việt S trình bày:
Ngày 02 tháng 11 năm 2022, ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D có mua điện thoại hiệu Iphone Pro max 13 và phụ kiện điện thoại tại cửa hàng ông và còn nợ số tiền 42.720.000 đồng, khi nhận điện thoại ông V có ký tên vào biên nhận nợ ngày 02/11/2022, thỏa thuận thời gian thanh toán đến ngày 01/12/2022. Ngày 04/11/2022 ông Trần Quốc V tiếp tục mua điện thoại hiệu Sam sung tại cửa hàng ông và nợ số tiền 6.750.000 đồng, ông V nhận điện thoại và có ký tên vào biên nhận nợ ngày 04/11/2022 thỏa thuận thời gian trả nợ là ngày 04/12/2022, nhưng ông V và bà D không thực hiện đúng thỏa thuận đến nay không trả số tiền nợ trên cho ông. Nay ông yêu cầu ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D trả cho ông tổng số tiền nợ là 49.470.000 đồng.
Ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không cung cấp lời khai, chứng cứ cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Việt S khởi kiện ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D yêu cầu trả tiền nợ mua tài sản nên đây là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D cùng cư trú tại khóm D, thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa ông Nguyễn Việt S xác định ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D có mua điện thoại và phụ kiện điện thoại tại cửa hàng của ông hai lần và còn nợ tổng số tiền 49.470.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, ông Nguyễn Việt S cung cấp hai biên nhận nợ ngày 02/11/2022 và biên nhận ngày 04/11/2022 có ông Trần Quốc V ký tên. Theo đó, ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D không thực hiện đúng thỏa thuận về thời gian trả nợ là đến ngày 01/12/2022 và ngày 04/12/2022 nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với nguyên đơn. Ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D cũng không có ý kiến phản đối về nội dung khởi kiện và chứng cứ do ông S cung cấp, cũng không có yêu cầu phản tố. Do đó, có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D liên đới nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 49.470.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn được hoàn lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí, ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng các điều 430, 440 và 468 của Bộ luật dân sự.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D liên đới nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 49.470.000 (bốn mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D phải chịu 2.473.500 đồng. Ông Nguyễn Việt S đã nộp tạm ứng án phí với số tiền 1.237.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018525 ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Nay hoàn trả toàn bộ cho ông Nguyễn Việt S 1.237.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ông Nguyễn Việt S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Quốc V và bà Nguyễn Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Tân; - CCTHADS huyện Phú Tân; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Thị Vẹn |