vanban.org

Bản án 107/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 26/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng pháp luật:

2/ Tuyên bố: Bị cáo Lê Việt H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt Lê Việt H: 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HS về tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, b…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng pháp luật:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 107/2022/HS-ST
Ngày: 26/10/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Thoa

Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Ba

2. Bà Phạm Thanh Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Ông Lƣơng Quang Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 10 năm 2022 tại Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 98/2022/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Việt H, sinh năm 1983 – Giới tính: Nam.

Nơi sinh: Phú Quốc, Kiên Giang.

Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp S, xã D, Phú Quốc, Kiên Giang.

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 9/12;

Nghề nghiệp: làm thuê.

Cha: Lê Thanh L, sinh năm 1952 (sống).

Mẹ: Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1963 (chết).

Anh, chị em ruột: 04 người (lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1989)

Vợ: Nguyễn Hồng Y, sinh năm 1982

Con: 01 người, sinh năm 2011

Tiền án, tiền sự: chưa.

Bị tạm giam từ ngày 09/6/2022.

Bị cáo có mặt tại phiên toà

- Bị hại:

1/ Chị Nguyễn Hồng Y, sinh năm 1982

Hộ khẩu: Ấp S, xã D, thành phố Phú Quốc, Kiên Giang

Chỗ ở hiện nay: Hẻm 5, khu phố M, phường D, Phú Quốc, Kiên Giang.

2/ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1997

Hộ khẩu: Thôn N, phường H, thị xã Nghi Sơn, Thanh Hoá

Chỗ ở hiện nay: Hẻm 5, khu phố M, phường D, Phú Quốc, Kiên Giang.

(Chị Y và anh T có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 05/6/2021, Lê Việt H điều khiển xe môtô chạy đến nhà trọ Loan K thuộc hẻm 5, khu phố M, phường D, thành phố Phú Quốc, Kiên Giang để thăm con và vợ là Nguyễn Hồng Y. Khi đến nhà trọ, H thấy Y đang ở trong phòng trọ số 9 của Nguyễn Văn T thuê và ở cùng với T, nên H vào phòng kéo Y đi về phòng trọ số 3 khép cửa lại, sợ H đánh Y nên T đi theo, đẩy cửa đi vào phòng. H không cho T vào nhưng T vẫn đi vào phòng. H tức giận nên dùng nón bảo hiểm đang đội trên đầu đánh vào người T 2, 3 cái nhưng không gây thương tích thì được Y can ngăn. T lùi lại phía sau gần bếp lấy cây dao yếm đi lại để đánh nhau với H. Thấy vậy, H bỏ nón bảo hiểm và lấy cây dao cán vàng, lưỡi bằng kim loại mũi nhọn dài khoảng 20cm trên cửa sổ trong phòng nhào đến đánh nhau với T và dùng dao đâm T trúng vào vùng chẩm trái, cổ trái và lưng trái gây thương tích. Y tiếp tục vào can ngăn, T chạy vào phòng vệ sinh đóng cửa lại. Y đi ra ngoài gọi điện cho Nguyễn Thị Huỳnh N là con riêng của Y nói bị H đánh và kêu N đi về. Thấy Y gọi điện thoại, H nghĩ Y gọi cho người khác đến đánh H nên H chạy đến chỗ Y dùng tay đánh vào mặt Y, Y bỏ chạy vào phòng, H tiếp tục đi vào dùng chân đá Y vào hông nhưng không gây thương tích. Sau đó H cầm con dao cán vàng và nón bảo hiểm điều khiển xe mô tô đi về nhà, vứt bỏ cây dao, nón bảo hiểm và bỏ trốn. Ngày 29/12/2021, Lê Việt H bị cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Phú Quốc khởi tố, truy nã. Đến ngày 09/6/2022, Lê Việt H bị bắt và bị tạm giam để điều tra.

Bị hại Nguyễn Hồng Y không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Bị hại Nguyễn Văn T yêu cầu Nguyễn Việt H bồi thường tổng số tiền 92.983.277 đồng, trong đó gồm: Chi phí điều trị, ăn uống là 7.883.277 đồng, thu nhập thực tế bị mất trong một tháng là 10.500.000 đồng (T làm thợ hồ), tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 74.500.000 đồng.

Tang vật vụ án: Nón bảo hiểm và cây dao cán vàng Lê Việt H gây thương tích cho Nguyễn Văn T đã được truy tìm nhưng không thu hồi được.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 396/TgT ngày 18/10/2021 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Kiên Giang kết luận thương tích của Nguyễn Văn T như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo phần mềm vùng chẩm trái, cổ trái và lưng trái;

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 05%.

Vật gây thương tích: Vật có cạnh sắc;

Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích trên tác động theo hướng từ trên xuống và từ sau ra trước theo trục giải phẫu.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 395/TgT ngày 18/10/2021 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Kiên Giang kết luận thương tích của Nguyễn Hồng Yến như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Chấn thương phần mềm vùng thái dương hai bên, hông và hạ sườn phải. Hiện tại không thấy dấu vết thương tích do đả thương.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 00%.

Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Tại bản cáo trạng số 108/CT-VKSPQ ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Lê Việt H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Việt H bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Xử phạt: Lê Việt H từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về tang vật vụ án: Do không thu giữ được nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Hồng Y không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với yêu cầu bồi thường của bị hại Nguyễn Văn T thì tại phiên toà bị cáo tự nguyện bồi thường gồm: chi phí điều trị, ăn uống là 7.883.277 đồng, thu nhập thực tế bị mất trong một tháng là 10.500.000 đồng đề nghị HĐXX ghi nhận, đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần đề nghị HĐXX chấp nhận số tiền là 5.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho anh T là 23.383.277 đồng.

Tại phiên tòa:

Bị hại Nguyễn Hồng Y vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường.

Bị hại Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, không rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự mà đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 89.483.277 đồng nhưng không nêu từng số tiền cụ thể.

Tại phiên toà: Bị cáo Lê Việt H thừa nhận hành vi gây thương tích cho người bị hại Nguyễn Văn T, Nguyễn Hồng Y là sai và vi phạm pháp luật.

Bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền chi phí điều trị, ăn uống cho anh T là 7.883.277 đồng, thu nhập thực tế bị mất trong một tháng là 10.500.000 đồng, riêng tiền bồi thường tổn thất tinh thần bị cáo xin được bồi thường khoảng từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX vào nghị án: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phú Quốc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Việt H thừa nhận khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 05/6/2021, khi đến phòng trọ để thăm con và vợ là Nguyễn Hồng Y đã xảy ra mâu thuẫn giữa Y và T nên H tức giận dùng nón bảo hiểm đang đội trên đầu đánh vào người T 2, 3 cái thì được Y can ngăn. T lùi lại phía sau gần bếp lấy cây dao yếm đi lại để đánh nhau với H nên H bỏ nón bảo hiểm và lấy cây dao cán vàng, lưỡi bằng kim loại mũi nhọn dài khoảng 20cm trên cửa sổ trong phòng đâm T trúng vào vùng chẩm trái, cổ trái và lưng trái gây thương tích 5%. Thấy vậy Y gọi điện thoại cho con gái thì H nghĩ Y gọi cho người khác đến đánh H nên H dùng tay đánh vào mặt Y, Yến bỏ chạy vào phòng, H tiếp tục đi vào dùng chân đá Y vào hông nhưng không gây thương tích. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như lời khai của người bị hại nên HĐXX có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lê Việt H phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, điều luật có mức hình phạt là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 03 năm.

. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được việc xâm phạm sức khoẻ của người khác là hành vi vi phạm pháp luật, chỉ vì ghen tuông mà bị cáo đã dùng con dao cán vàng là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng chẩm trái, cổ trái và lưng trái gây thương tích cho anh T tổng cộng là 5%, đối với Y tuy không có thương tích nhưng cũng bị H đánh đá bằng chân tay liên tục, thể hiện sự xem thường pháp luật, hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân, đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi bị cáo gây ra.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, tuy nhiên khi phạm tội xong bị cáo đã bỏ trốn phải truy nã làm cản trở công việc của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lê Việt H sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thương tích của người bị hại là 05%, bị hại Yến có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS, HĐXX xem xét khi lượng hình cho bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Hồng Y không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Đối với bị hại Nguyễn Văn T: Trong giai đoạn điều tra, anh T yêu cầu bồi thường số tiền 92.982.277 đồng gồm: chi phí điều trị và tiền ăn là 7.883.277 đồng, thu nhập thực tế bị mất đối với nghề phụ hồ trong một tháng là 10.500.000 đồng, tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 74.500.000 đồng. Tuy nhiên tại đơn xin xét xử vắng mặt thì bị hại Nguyễn Văn T yêu cầu bồi thường với tổng số tiền là 89.483.277 đồng nhưng không ghi cụ thể từng loại tiền gì.

Xét yêu cầu bồi thường số tiền 89.483.277 đồng của anh T, HĐXX thấy: tại phiên toà bị cáo chấp nhận trả số tiền chi phí điều trị và tiền ăn là 7.883.277 đồng, thu nhập thực tế bị mất đối với nghề phụ hồ trong một tháng là 10.500.000 đồng, HĐXX ghi nhận sự tự nguyện này, đối với tiền bồi thường tổn thất tinh thần HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu của anh T với lý do khi thấy Y trong phòng của T thì bị cáo kêu Y về và T tự ý xông vào phòng trọ của Y và còn cầm dao yếm chém bị cáo nên bị cáo mới lấy dao chém lại nên giữa bị cáo và bị hại T đều có lỗi, do đó cần áp dụng Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 buộc bị cáo bồi thường số tiền tổn thất tinh thần là 10.000.000 đồng cũng thoả đáng. Tổng số tiền buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn T là 28.383.277 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu nếu người phải thi hành không trả hoặc trả không đầy đủ thì còn phải chịu lãi suất theo quy định của pháp luật tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa trả.

. Tang vật vụ án: Do không thu giữ được nên không xem xét.

. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đề nghị về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Án phí dân sự có giá ngạch: Bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 28.383.277 đồng là 1.419.164 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng pháp luật:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

2/ Tuyên bố: Bị cáo Lê Việt H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt Lê Việt H: 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2022.

3/ Về xử lý vật chứng: Không thu hồi được nên không xem xét.

4/ Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 590 Bộ luật dân sự 2015

Bị hại Nguyễn Hồng Y không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Buộc bị cáo Lê Việt H bồi thường cho anh Nguyễn Văn T số tiền thuốc, tiền mất ngày công lao động, tiền tổn thất tinh thần, tổng cộng là 28.383.277 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu nếu người phải thi hành không trả hoặc trả không đầy đủ thì còn phải chịu lãi suất theo quy định của pháp luật tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa trả.

5/ Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.419.164 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

6/ Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ