- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Đ - Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Dương Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phú…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2022/HS-PT Ngày 29 - 7 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Huyền và Phạm Thị Thuý Quỳnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An kết nối với điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 105/2022/TLPT-HS ngày 24 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo Dương Văn Đ, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2022/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Nghệ An.
- Bị cáo bị kháng nghị:
Dương Văn Đ, sinh ngày 08 tháng 4 năm 1989 tại thị xã C, tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT: Khối Đ, phương N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: Khối T, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Hvà bà Chu Thị T; có vợ Cao Thị V và có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 11/3/2021 sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thị xã C lập hồ sơ giáo dục tại phường thời hạn 03 tháng chấp hành xong ngày 11/6/2021;
Nhân thân: Ngày 18/5/2005 bị Công an phường T, thị xã C xử phạt hành chính cảnh cáo về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; ngày 16/01/2006 bị Tòa án nhân dân thị xã C xử phạt 06 cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 28/5/2008 bị Tòa án nhân dân thị xã C xử phạt 12 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; ngày 20/3/3014 bị Công an thị xã C xử phạt hành chính 2.000.000 đồng về hành vi sử dụng vũ khí quân dụng.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2021 đến nay. Có mặt.
- Ngoài ra trong vụ án có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Cao Thị V không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 23/12/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Dương Văn Đ một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát 37S1 – 109.74 đi lên khu bén vực xe V (cũ) thuộc phường L, thành phố V để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực cổng bến xe Dương Văn Đ gặp và hỏi một người đàn ông khoảng 40 tuổi không rõ tên tuổi, lai lịch có ma túy đá bán không? Nếu có thì bán cho Dương Văn Đ 15.000.000 đồng. Người đàn ông đó đồng ý và hẹn Dương Văn Đ đứng ở đó chờ. Khoảng 30 phút sau người đó quay trở lại đưa cho Dương Văn Đ một gói ni lông bọc bên trong là ma túy đá. Sau khi mua xong ma túy, Dương Văn Đ đưa về nhà chia thành 07 gói nhỏ cất dấu vào thùng máy xay nước mía để sử dụng dần.
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 29/12/2021, Dương Văn Đ lấy 01 gói nhỏ ma túy được bọc trong gói ni lông màu trắng đi ra khu vực nghĩa trang phường N, thị xã C để sử dụng. Khoảng 17 giờ 35 phút, khi đi đến khu vực đường Hoàng Nguyên C thuộc khối 7, phường N, thị xã C, Dương Văn Đ dừng xe bên đường thì gặp tổ công tác Công an thị xã C yêu cầu kiểm tra. Lúc này do hoảng sợ nên Dương Văn Đ bỏ chạy và ném gói ni lông bên trong có ma túy đá Đ đang cầm ở tay xuống nền đường thì tổ công tác phát hiện khống chế yêu cầu Dương Văn Đ nhặt lên để kiểm tra. Dương Văn Đ nhặt gói ni lông màu trắng bên trong có ma túy mình vừa ném xuống đường giao nộp cho lực lượng Công an. Dương Văn Đ khai nhận đó là gói ma túy đá của Dương Văn Đ mang đi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Tổ công tác Công an thị xã C đã mời người chứng kiến, tiến hành thu giữ, niêm phong toàn bộ tang vật và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Dương Văn Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Ngoài ra, quá trình tiến hành khám xét tại nơi ở của Dương Văn Đ ở khối T, phường N, thị xã C, Công an thị xã C còn phát hiện thu giữ thêm 06 (sáu) túi ni lông màu trắng kích thước khác nhau bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng được cất dấu ở thùng các tông, hộp nhựa hình trụ và 01 (một) cân điện tử và 170 vỏ gói ni lông màu trắng kích thước khác nhau chưa qua sử dụng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C phối hợp Viện kiểm sát nhân dân thị xã C tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Dương Văn Đ khi bắt quả tang và khám xét tại nơi ở (ký hiệu M1 đến M6) có tổng khối lượng là 77,69g (bảy mươi bảy phẩy sáu mươi chín gam)
Ngày 05/01/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An có Kết luận giám định số 88, 90/KL-PC09(Đ2-MT) kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Dương Văn Đ và 06 (sáu) mẫu chất tinh thể màu trắng ký hiệu M1 đến M6 gửi tới giám định là ma tuý Methamphetamine có tổng khối lượng là 77,69g (bảy mươi bảy phẩy sáu mươi chín gam).
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2022/HS-ST ngày 12/4/2022 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn Đ 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 29/12/2021.
Ngoài ra Bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không có kháng cáo.
Ngày 12/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 922/QĐ-VKS-P7 với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tăng hình phạt đối với bị cáo Dương Văn Đ để đảm bảo việc áp dụng đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết đinh kháng nghị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa án sơ thẩm theo hướng tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo Dương Văn Đ. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn Đ từ 11 đến 12 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo Dương Văn Đ không tranh luận chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xe xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Dương Văn Đ hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm nhận xét, đánh giá. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 35 phút ngày 29/12/2021 tại khu vực đường Hoàng Nguyên C thuộc Khối 7, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác Công an thị xã C, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang Dương Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là Methaphetamine có khối lượng 77,69 gam. Bị cáo thừa nhận tàng trữ ma túy nhằm mục đích để sử dụng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Dương Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đồng ý với bản án sơ thẩm và không kháng cáo. Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, bị cáo không đồng ý và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2] Xét kháng nghị tăng mức hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, gia đình có công với cách mạng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị cơ quan chức năng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng, sử dụng vũ khí quân dụng trái phép; bị Tòa án nhân dân thị xã C xử phạt về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Cưỡng đoạt tài sản”. Ngoài ra bị cáo đang có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo không lấy đó là bài học để làm gương và tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục hành vi phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo là rất nghiêm trọng bị cáo tàng trữ ma túy với khối lượng 77,69 gam Methamphetamine, thể hiện bị cáo bất chấp, coi thường phát luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 10 năm 06 tháng tù là nhẹ, không đủ tính chất răn đe, phòng ngừa đấu tranh với tội phạm ma túy. Do đó, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An về tăng mức hình phạt đối với bị cáo Dương Văn Đ.
[3] Về án phí: Bị cáo Dương Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, sửa bản án sơ thẩm, tăng mức hình phạt đối với bị cáo.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Văn Đ 12 (mười hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 29/12/2021.
2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Dương Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - TAND, VKSND, Công an T.xã C; - Chi cục THADS thị xã C; - UBND phường N; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, toà Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Hải |